Tuyển tập các bài luận giải Phật giáo của Đại trưởng lão Hoà thượng, Thiền sư Nyanaponika Thera
Được biên tập, hiệu đính cùng với lời giới thiệu của Ngài Bhikkhu Bodhi
Lời tựa được viết bởi Erich Fromm
Dịch Việt: Việt Hùng
Nguyên tác tiếng Anh mang tên The Vision of Dhamma được phát hành bởi BPE (https://store.pariyatti.org/Vision-of-Dhamma_p_2218.html)
Lời người dịch
Tôi biết đến Ngài Nyanaponika khi đọc cuốn Sức mạnh của chánh niệm (và cũng là một bài luận trong chính cuốn sách này). Sau đó, tôi lại có dịp đọc và dịch Việt cuốn Trái tim thiền Phật giáo của Ngài, một cuốn sách được xem là kinh điển trong việc luận giải một cách rõ ràng và trọn vẹn bản kinh Đại Niệm Xứ, là cẩm nang hành thiền, là bản kinh duy nhất mà trong đó Đức Phật chỉ dạy trực tiếp và chi tiết pháp hành thiền Tứ niệm xứ, là pháp hành độc nhất để đến được với một sự tự do giải thoát hoàn toàn khỏi mọi cấu uế ở trong tâm. Nếu cuốn Trái tim thiền Phật giáo là cuốn cẩm nang về pháp hành cụ thể của Phật giáo thì cuốn sách này là cẩm nang về giáo lý Phật giáo. Tôi mất gần một năm làm việc liên tục mới có thể dịch xong được cuốn Tầm nhìn của Pháp. Và trong suốt quá trình dịch sách, tôi đã quá động tâm, đi qua nhiều cung bậc của sự biết ơn và an lạc, khi vỡ ra được các ý tứ sâu sắc về giáo lý trong từng câu chữ xuyên suốt cuốn sách. Tôi tin rằng, hai cuốn sách này (Tầm nhìn của Pháp và Trái tim thiền Phật giáo) là đầy đủ và trọn vẹn và là không thể thiếu được về mặt pháp học cho bất cứ một Phật tử tín tâm nào, những con người đang nhiệt thành đi trên con đường Phật đạo, con đường tìm hiểu về tâm mình, uốn nắn tâm mình và cuối cùng là giải thoát tâm mình hoàn toàn khỏi mọi phiền não, cấu uế ở bên trong.
Con xin cung kính đảnh lễ tri ân và tạ ơn Ngài Đại Trưởng lão Thiền sư Nyanaponika Thera, người đã diễn giải Giáo pháp một cách súc tích, sáng rõ và trọn vẹn thông qua câu chữ và trí tuệ sâu sắc của Ngài. Cầu mong giáo pháp vĩ đại của Đức Phật sẽ đến được với những ai cần đến Pháp, những con người đang chiến đấu trong cuộc sống với muôn vàn khó khăn và thử thách này.
Nghe sách nói trên Youtube
Nghe sách nói trên Soundcloud
Nghe sách nói trên Spotify
Tải về sách điện tử miễn phí tại:
– Google Play: https://play.google.com/store/books/details?id=zrtPEQAAQBAJ
– Apple Book: http://books.apple.com/us/book/id6755325065
– Tải về định dạng epub
– Tải về định dạng pdf

Ngài Đại trưởng lão Hoà thượng, Thiền sư Nyanaponika Thera (1901 — 1994)
Mục lục
- Lời tựa
- Lời giới thiệu
- Con đường giải thoát khổ đau
- Lớp da bị bào mòn
- Sức mạnh của chánh niệm
- Gốc rễ của thiện và ác
- Năm chướng ngại phát triển tâm linh
- Bốn loại thức ăn cho sự sống
- Tam quy Phật giáo
- Tứ vô lượng tâm
- Vô ngã (Anattā) và Niết-bàn (Nibbāna)
- Các bài luận ngắn
Lời đề tặng
Ấn bản thứ hai này của cuốn Tầm nhìn của Pháp được biên soạn nhân dịp sinh nhật lần thứ 93 của Đại trưởng lão Hòa thượng Nyanaponika Thera, vào ngày 21 tháng 7 năm 1994.
Ban biên tập và nhà xuất bản xin dành ấn bản này để tưởng nhớ đến Hoà thượng với một lòng biết ơn sâu sắc về một tầm nhìn sáng suốt và một nỗ lực dạy dỗ đầy lòng từ bi của Ngài trong suốt cuộc đời phụng sự Pháp một cách vị tha. Ngài Nyanaponika Thera viên tịch vào ngày 19 tháng 10 năm 1994, tại tu viện Forest Hermitage, gần Kandy, Sri Lanka.
Các cụm chữ viết tắt
AN — Tăng Chi Bộ Kinh (Aṅguttara Nikāya)
Dhp. — Kinh Pháp Cú (Dhammapada)
DN — Trường Bộ Kinh (Dīgha Nikāya)
Itiv. — Kinh Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka)
MN — Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya)
SN — Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta Nikāya)
Snp. — Kinh Tập (Sutta Nipāta)
Vism. — Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga)
Lời tựa
Trong xã hội ngày nay, không có một giá trị nào khác ngoại trừ việc cần phải thành công, không có một chuẩn mực nào khác ngoại trừ mệnh lệnh phải gia tăng sản xuất và tiêu dùng không ngừng nghỉ, một xã hội mà trong đó con người hoàn toàn thay đổi chính mình theo những thị hiếu bị thao túng và dư luận. Ở trong một thế giới như vậy, việc nảy sinh nhu cầu tìm lại được ý nghĩa của cuộc sống cũng như khao khát một kiểu phục hưng tôn giáo nào đó là một việc quá dễ hiểu. Kitô giáo và Do Thái giáo ngày nay có ít sức hấp dẫn đối với thế hệ trẻ, có lẽ là do bởi những yếu tố độc đoán và phản lý trí của chúng. Trong khi đó, sức hấp dẫn của các tôn giáo Phương Đông, đặc biệt là Phật giáo, Thiền tông và các pháp hành Phương Đông khác như yoga, thiền tập thì lại ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn rất nhiều.
Thật không may, nhưng lại cũng không có gì đáng ngạc nhiên, rằng sự quan tâm này đang bị lạm dụng bởi các giáo phái không nghiêm túc hay thậm chí là cả một số giáo phái thuần tuý bịp bợm. Những giáo phái này khơi dậy cùng một điểm yếu mà họ hứa sẽ “chữa lành”; nhưng thay vì thúc đẩy một sự phát triển mới mẻ thông qua trí tuệ cũng như một pháp hành phù hợp, họ lại gây ảnh hưởng lên mọi người thông qua các đề nghị mang tính đại chúng to lớn, thông qua sự phụ thuộc vào những con người được gọi là bậc thầy, cũng như thông qua những phương pháp tuyên truyền hiện đại mang sắc màu công nghệ và chính trị. “Chữa lành” trở thành một thị trường kinh doanh to lớn. Thông thường thì chỉ cần mang một nhãn mác “đến từ Ấn Độ” là đủ để thiết lập bản thân mình như là một vị đạo sư và có được sự ảnh hưởng đến hàng trăm hoặc hàng nghìn người.
Đi ngược lại với xu hướng nói trên, chúng ta cần phải hiểu được ý nghĩa và tầm quan trọng về mặt con người cũng như về công việc của Ngài Trưởng lão Nyanaponika Thera. Ngài là một học giả, là một vị thầy, là một người trợ giúp — chứ không phải là một đạo sư, không phải là một “nhà lãnh đạo”, cũng như không phải là một kẻ dụ dỗ. Trong vai trò của một học giả, Ngài là một trong những thành viên xuất sắc nhất của truyền thống Phật giáo Nguyên thủy (Theravāda) ở Sri Lanka. Công trình dịch thuật kinh điển Phật giáo từ tiếng Pāli sang tiếng Đức và tiếng Anh của Ngài là thành tựu văn hóa mang một ý nghĩa to lớn. Bản thân Ngài có những phẩm tính mà tất cả các học giả vĩ đại trong mọi nền văn hóa đều sở hữu: Khách quan, không cuồng tín, đáng tin cậy đến từng chi tiết nhỏ nhất và khiêm tốn. Việc truyền bá và chuyển ngữ kinh điển Phật giáo sang các ngôn ngữ phương Tây của Ngài là một công việc ý nghĩa. Tuy nhiên, vai trò của một người thầy, một người trợ giúp của Ngài thậm chí còn mang lại nhiều ý nghĩa hơn cả công việc dịch thuật. Không có một cuốn sách Phật giáo nào khác có thể so sánh được với cuốn Trái tim thiền Phật giáo của Ngài trong việc trình bày một cách rõ ràng những tư tưởng cốt lõi của “tôn giáo vô thần” này, vốn nghe có vẻ rất nghịch lý đối với người phương Tây. Phong cách trình bày của Ngài luôn luôn đơn giản. Tuy nhiên, sự đơn giản đó chỉ có thể có được từ một người đã hoàn toàn nắm vững một chủ đề phức tạp đến mức có thể diễn đạt nó theo một cách đơn giản. Cũng giống như tôi, độc giả sẽ gặt hái được rất nhiều điều, nếu cứ đọc đi đọc lại các câu từ và đoạn văn nhiều lần để hiểu được ý tứ của Ngài một cách trọn vẹn. Phong cách trình bày của Ngài tương ứng với một phẩm tính khác trong tính cách của Ngài. Ngài muốn thuyết phục mà không áp đảo — Con người của Ngài không có mặt ở trong các lập luận logic của Ngài. Những ai mong muốn phục tùng một vị đạo sư, một người tìm ra sự thật thông qua các huyền thuật, sẽ sớm thấy rằng, mình không phù hợp với những bài luận của Ngài Nyanaponika Thera.
Như là một người học trò chân chính của Đức Phật, Ngài Trưởng lão Nyanaponika Thera không chỉ muốn dạy dỗ không thôi, mà Ngài còn muốn giúp đỡ, chữa lành và chỉ ra cho người đệ tử con đường tự chữa lành cho chính mình. Là một người Châu Âu được sinh ra vào đầu thế kỷ 20, có lẽ là Ngài không thể hoàn thành nhiệm vụ này một cách trọn vẹn như Ngài đã làm được, nếu Ngài không có một kiến thức sâu sắc đến vậy về các vấn đề tâm lý của con người hiện đại. Cái gọi là “vấn đề thuộc về tôn giáo, tín ngưỡng” không tồn tại đối với Ngài. Chúng chỉ là sự biểu hiện cho những vấn đề của con người và ở cấp độ này, Trưởng lão Nyanaponika Thera cho thấy rằng, Ngài là một nhà tâm lý học hàng đầu hay có lẽ đúng hơn là một nhà nhân chủng học thông thái. Ngài hiểu tường tận về con người, về điều kiện cơ bản cho sự tồn tại của con người, về những đam mê và lo lắng của con người, sâu sắc đến mức Ngài có thể trình bày Phật pháp như là một câu trả lời cho nhu cầu tâm linh của con người hiện đại ngày nay, hoặc thậm chí có thể là cả của ngày mai.
Quả thực, những bài luận giải của Ngài Trưởng lão Nyanaponika Thera là một bản “Hướng dẫn dành cho những con người bối rối” trong một phần tư cuối thế kỷ này. Chúng hoàn toàn trái ngược với các giáo phái đang phổ biến và thịnh hành. Trong cuốn sách về thiền Phật giáo được đề cập ở trên (Trái tim thiền Phật giáo), Ngài đã thành công trong việc mô tả phương pháp hành thiền Tứ Niệm Xứ một cách rõ ràng đến mức, bất cứ một ai nghiêm túc và không ngại nỗ lực đều có thể tiếp cận được. Tuy nhiên, vượt lên trên cả pháp hành thiền Tứ Niệm Xứ, Ngài Trưởng lão Nyanaponika Thera đã nhấn mạnh đến những yếu tố trong Phật pháp tạo nên những phẩm tính tốt đẹp nhất cho một con người đương đại tỉnh táo, nghiêm túc và khao khát: Tính hợp lý, sự độc lập, việc từ bỏ ảo tưởng về quyền lực cũng như từ bỏ sự quy phục đối với quyền lực, và việc nắm bắt một cách trọn vẹn thực tại những gì đang xảy ra ở bên trong mình. Theo tôi hiểu thì đây chính là điểm giao thoa mà ở đó việc tự ngộ trong Phật pháp và ngành phân tâm học chạm vào với nhau. Trái ngược với rất nhiều cách diễn dịch sai lầm về Phật pháp, Ngài Trưởng lão Nyanaponika Thera đã nhấn mạnh rằng sự bình yên và niềm vui, chứ không phải là sự hủy diệt và chủ nghĩa hư vô, là cốt lõi của thế giới cảm thọ. Ngài đặc biệt nhấn mạnh rằng, Phật pháp không chỉ muốn giúp đỡ những ai đang phấn đấu đạt đến mục tiêu tuyệt đối, Niết-bàn (một mục tiêu rất ít người có thể thành tựu được), mà Phật pháp còn giúp đỡ cả những người, theo cách nói của Ngài, đang phấn đấu để “hay biết về chính mình, mà nếu tạm thời và phần nào tự do thoát khỏi được sự chiếm hữu của tham dục cũng như tự do thoát khỏi được sự mù quáng trong việc tự lừa dối chính mình, thì người ấy có thể làm chủ chính mình và sống cũng như suy nghĩ dưới ánh sáng của tri thức.”
Tuy nhiên, đó lại không phải là nơi để trình bày bức tranh Phật pháp, như Ngài Trưởng lão Nyanaponika Thera đã trình bày. Tôi cũng không theo đuổi ý định nhằm chỉ ra những điểm mà tôi không tán thành, trong ngữ cảnh tổng thể của giáo lý Đạo Phật. Công việc đó cần đến một phân tích chi tiết về các sự khác biệt giữa quan điểm của chủ nghĩa nhân văn cấp tiến và của Phật pháp, vốn chỉ có thể được giải quyết trong khuôn khổ quy mô của một cuốn sách đặc biệt. Tôi chỉ có thể xác nhận rằng, việc làm quen với tác phẩm của Trưởng lão Nyanaponika Thera đã cho tôi nhiều hiểu biết sâu sắc quan trọng và rằng, trong số những người mà tôi đã giới thiệu sách của Ngài để họ nghiên cứu, khá nhiều người đã cho tôi biết rằng những tác phẩm này là khởi đầu cho một định hướng mới cũng như một pháp hành mới. Tôi tin chắc rằng các tác phẩm của Ngài Trưởng lão Nyanaponika Thera có thể trở thành một trong những đóng góp quan trọng nhất cho sự đổi mới về mặt tâm linh ở phương Tây, nếu các kiến thức này tiếp cận được đến với một số lượng độc giả đủ lớn để tạo nên sự đổi mới đó.
Erich Fromm
Bài luận ngắn này ban đầu được xuất bản bằng tiếng Đức dưới tựa đề “Tầm quan trọng của Ngài Đại trưởng lão Nyanaponika Mahathera đối với phương Tây” (1976).
Ghi chú về nguồn kinh tham khảo
Các bài luận và tác phẩm của Ngài Trưởng lão Nyanaponika Thera được đặt trên nền tảng của Kinh điển Pāli, là bộ kinh điển chính của truyền thống Phật giáo Nguyên thủy. Được bảo tồn bằng ngôn ngữ Pāli cổ, mà nhiều đệ tử Phật giáo Nguyên Thủy xem là ngôn ngữ được sử dụng bởi chính Đức Phật, bộ kinh điển cổ xưa này bao gồm ba phần, Tam Tạng (Tipiṭaka) hay “ba giỏ” giáo lý: (I) Luật Tạng (Vinaya Piṭaka), phần giới luật, bao gồm những quy tắc ứng xử được quy định cho cuộc sống xuất gia ở nơi tu viện; (II) Kinh Tạng (Sutta Piṭaka), bao gồm những bài thuyết pháp và đối thoại của Đức Phật; và (III) Luận Tạng, hay còn được gọi là Thắng Pháp Tạng, hoặc Vi Diệu Pháp (Abhidhamma Piṭaka), bộ giáo lý cao cấp, là tuyển tập các bài giảng của Đức Phật về thể tính và sự tướng của vạn pháp, dưới khía cạnh của triết học và tâm lý học.
Mặc dù Ngài Trưởng lão Nyanaponika Thera là một học trò sâu sắc về Vi Diệu Pháp, với bằng chứng là các bản dịch sang tiếng Đức của nhiều đoạn trích từ Vi Diệu Pháp cũng như các công trình nghiên cứu về Vi Diệu Pháp của Ngài, nguồn cảm hứng chính của các bài luận được sưu tầm trong cuốn sách này lại đến từ Kinh Tạng. Nó bao gồm năm bộ chính: (1) Trường Bộ Kinh (Dīgha Nikāya), tuyển tập các bài kinh dài; (2) Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), tuyển tập các bài kinh có độ dài trung bình; (3) Tương Ưng Bộ Kinh (Saṃyutta Nikāya), tuyển tập các bài kinh được nhóm lại, bao gồm những bài kinh ngắn hơn được sắp xếp theo chủ đề; (4) Tăng Chi Bộ Kinh (Aṅguttara Nikāya), tuyển tập các bài kinh được đánh số, bao gồm những bài kinh ngắn hơn được sắp xếp theo một mẫu số từ một đến mười một; và (5) Tiểu Bộ Kinh (Khuddaka Nikāya), là bộ sưu tập hỗn hợp, bao gồm các tuyển tập nhỏ gồm thơ, truyện, luận và các bản kinh khác. Trong tuyển tập cuối cùng này, có bốn tác phẩm nổi bật được tham khảo trong các bài luận của Ngài Nyanaponika Thera: Bản Kinh Pháp Cú nổi tiếng (Dhammapada); Kinh Tập (Sutta Nipāta), tuyển tập thơ với sự nhấn mạnh rõ rệt vào lý tưởng khổ hạnh cổ xưa; Kinh Phật tự thuyết (Udāna) và Kinh Phật thuyết như vậy (Itivuttaka), gồm những bài kinh ngắn, mỗi bài được kết thúc bằng một bài kệ truyền cảm hứng.
Trong các bài luận của cuốn sách này, các tham khảo đến Trường Bộ Kinh, Trung Bộ Kinh, Kinh Phật tự thuyết và Kinh Phật thuyết như vậy dùng số thứ tự của bài kinh ở trong bộ kinh; đối với Tương Ưng Bộ Kinh, số thứ tự của chương được theo sau bởi số thứ tự của bài kinh ở trong chương đó; tương tự đối với Tăng Chi Bộ Kinh, số thứ tự của chương được theo sau bởi số thứ tự của bài kinh ở trong chương đó; đối với Kinh Pháp Cú và Kinh Tập, số thứ tự của bài kệ được sử dụng. Trừ phi có chú thích khác đi, tất cả các bản dịch đều là công trình của Ngài Trưởng lão Nyanaponika Thera.
Các bài luận của Ngài Nyanaponika cũng chủ yếu còn dựa vào các bản chú giải kinh điển Pāli, mà hầu hết được biên soạn bởi vị học giả Phật giáo Nguyên thủy vĩ đại, Ngài Buddhaghosa, dựa trên cơ sở là các bản chú giải cổ mà Ngài tìm thấy ở Sri Lanka, khi Ngài từ Ấn Độ du hành sang đó vào thế kỷ thứ năm. Bản chú giải quan trọng nhất, đối với cả truyền thống Phật giáo Nguyên thủy nói chung cũng như đối với các tác phẩm của Ngài Nyanaponika, là bộ Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga), một bộ bách khoa toàn thư thực tế về giáo lý và pháp hành thiền Phật giáo Nguyên thủy. Cuốn Thanh Tịnh Đạo đã được xuất bản bởi Hiệp hội Xuất bản Phật giáo (Buddhist Publication Society) với một bản dịch xuất sắc của cố học giả, tu sĩ người Anh, Ngài Trưởng lão Hòa thượng Ñāṇamoli (vào năm 1975). Ngoại trừ một ngoại lệ, là bài luận “Tam quy Phật giáo” được viết thậm chí còn trước cả thời điểm tác phẩm của Ngài Ñāṇamoli xuất hiện, tất cả các trích dẫn từ Visuddhimagga đưa vào đây đều được lấy từ ấn bản trên của Ngài Ñāṇamoli.
Mặc dù ở phương Tây, một số thuật ngữ giáo lý Phật giáo được biết đến dưới hình thức tiếng Phạn nhiều hơn so với tiếng Pāli, tuy nhiên, các thuật ngữ trong tiếng Pāli được gán cho những ý nghĩa rất cụ thể trong truyền thống Phật giáo Nguyên thuỷ mà không phải lúc nào cũng phù hợp, cùng độ chính xác với thuật ngữ tương ứng trong tiếng Phạn. Do đó, các thuật ngữ Pāli nên được duy trì một cách nhất quán xuyên suốt trong cuốn sách này. Những thuật ngữ Pāli quan trọng nhất, cùng với từ tương đương trong tiếng Phạn, bao gồm: Dhamma (Pháp) / Dharma, Kamma (nghiệp) / karma và Nibbāna (Niết-bàn) / Nirvāṇa.
Lời giới thiệu
Phật pháp về cốt lõi là con đường dẫn đến sự tự do nội tâm ở bên trong, tập trung vào việc kỷ luật cái thấy của bản thân mình. Cốt lõi của Phật pháp là một tầm nhìn giải thoát được gieo trồng bằng một quá trình đào tạo có phương pháp đầy gian khổ nhưng tỉ mỉ, nằm ở bên dưới của vô số các hình thức và học thuyết khác nhau của Phật pháp mà đôi lúc khiến mọi người bối rối. Tầm nhìn này, dần dần làm thay đổi những quan niệm và thái độ cơ bản nhất của con người, đi qua mỗi và mọi giai đoạn của con đường Phật giáo chân chính, bắt đầu từ ánh sáng hiểu biết đầu tiên thúc đẩy một người đi vào con đường chân chính này cho đến khi vị ấy có được sự hiểu biết không còn nghi ngờ nào nữa về một sự giải thoát của tâm và về việc thành tựu được sự giải thoát đó. Theo thuật ngữ truyền thống, điều này được gọi là tầm nhìn của Pháp: Một tuệ giác sâu sắc xuyên thấu vào bản chất của sự vật và hiện tượng, thực sự là độc lập với các bám chấp, mơ ước cũng như các hoạt động bị thao túng của chúng ta, mà thực ra là được điều khiển bởi những mục đích ích kỷ.
Sự trao truyền Phật giáo từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ khu vực địa lý này sang khu vực địa lý khác, sau cuối cũng chỉ phụ thuộc vào việc trao truyền tầm nhìn này, mà nếu không có nó thì sẽ chỉ có sự chuyển giao của các hình thức vô hồn mà thôi, chứ không phải là sự truyền đạt của một Giáo pháp sống động, là chân lý làm tươi mới lại, nâng cao và giải phóng cái tâm của con người. Đặc biệt là vào thời điểm giao thoa quan trọng hiện nay của lịch sử Phật giáo, khi tương lai của nó ở ngay chính trên quê hương Châu Á đang bị đe dọa nghiêm trọng cả từ bên trong lẫn bên ngoài, cùng lúc là sự khao khát kiến thức về Phật pháp ngày càng trở nên gay gắt hơn ở phương Tây, việc hồi sinh tầm nhìn của Phật pháp cũng như hồi sinh cách diễn đạt của nó với một ngôn ngữ phù hợp với những vấn đề cấp bách mang tính sống còn của thời đại chúng ta đã trở thành một nhu cầu cấp thiết. Tuy nhiên, không giống như các học viện và chùa chiền, tầm nhìn của Pháp không thể được định hình và quản lý bởi các các đoàn thể có tổ chức vì các mục đích mang tính tập thể. Và về mặt bản chất, nó cũng mang tính cá nhân không thể tránh khỏi được và do đó chỉ có thể được trao truyền bởi những cá nhân đặc biệt được tạo hoá ban tặng, những con người đã mở lòng đón nhận tầm nhìn của Pháp và biến nó thành một trọng tâm quan trọng trong cuộc đời của họ.
Một trong những cá nhân đặc biệt đó ở thời đại của chúng ta ngày nay, và cũng là một trong những cá nhân quan trọng trong việc xây dựng cầu nối cho cuộc gặp gỡ giữa Phương Tây và Phật pháp, là một vị tu sĩ Phật giáo gốc Đức, Ngài Trưởng lão Hòa thượng Nyanaponika Thera. Là một thành viên xuất sắc của Tăng đoàn Phật giáo Nguyên thủy Sri Lanka trong hơn 55 năm, Ngài Nyanaponika Thera được độc giả Phật giáo đại chúng ở Phương Tây biết đến nhiều nhất với vai trò là tác giả của cuốn Trái tim thiền Phật giáo, một cuốn sách đã đạt được vị thế của một tác phẩm kinh điển hiện đại cũng như được rộng rãi xem là một sự trình bày rõ ràng và đáng tin cậy nhất bằng tiếng Anh về pháp hành thiền Tứ Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna), là pháp hành thiền để phát triển chánh niệm đúng đắn. Những người Phương Tây có mối quan tâm đặc biệt đến Phật giáo Nguyên thủy còn biết đến Ngài Nyanaponika Thera thông qua những công trình khác của Ngài bao gồm: Vô số các bài luận giải và tiểu luận về giáo lý và pháp hành của Phật giáo Nguyên thủy, các bản chuyển ngữ trong sáng Kinh điển Phật giáo từ tiếng Pāli sang tiếng Anh và tiếng Đức, và những nỗ lực phi thường của Ngài trong việc thành lập và lãnh đạo Hiệp hội Xuất bản Phật giáo (Buddhist Publication Society — BPS) ở Kandy, Sri Lanka, nơi Ngài liên tục giữ chức vụ Tổng biên tập kể từ khi thành lập vào năm 1958 cho đến năm 1984, và là Chủ tịch cho đến khi Ngài nghỉ hưu vào năm 1988 ở tuổi 87. Tuy nhiên, tất cả các thành tựu hiển nhiên và cụ thể này của Ngài Nyanaponika Thera bắt nguồn từ một thành tựu khác, một thành tựu truyền sức sống và cổ vũ cho những thành tựu còn lại, nhưng bản thân nó thì không thể được thấy rõ. Thành tựu đặc biệt này là sự tiếp cận của chính Ngài đến tầm nhìn của Phật giáo về Pháp: Một sự thấu đáo mà Ngài đã tiếp thu được, biến nó trở thành một với mình, làm cho nó hài hoà với những cái tâm vô cùng sắc sảo của người Phương Tây, và sau đó là diễn đạt tầm nhìn này của Pháp trong các bài luận và cuốn sách chạm được đến những con người hiện đại đang ngụp lặn trong vực thẳm các khủng hoảng tâm linh, mời gọi, truyền cảm hứng và nhẹ nhàng nhưng tự tin dẫn dắt họ nhằm chia sẻ tầm nhìn đó cũng như giúp họ trải nghiệm được hiệu năng chữa lành và giải thoát của nó.
Tầm nhìn của Ngài Nyanaponika Thera về Pháp, như được thể hiện trong các bài luận của Ngài, có tất cả những phẩm tính của một nhãn quan bén nhạy và sâu sắc. Với sự trong trẻo, nó mang đến sự rõ ràng; với sự đúng đắn và trung thành với sự thật, nó mang đến sự chính xác; với sự xuyên thấu vào những chân lý cơ bản của sự sống, nó mang đến chiều sâu; với một nhận thức rõ ràng về các hậu quả cũng như mục tiêu lâu dài, nó mang đến sự tách biệt; và với sự bao hàm một phạm vi rộng lớn các mối quan tâm của con người, nó mang đến chiều rộng. Hơn thế nữa, tương tự như khả năng của não bộ trong việc hợp nhất các hình ảnh kép được truyền đến nó qua hai dây thần kinh thị giác, trong tư tưởng và các tác phẩm của mình cũng như trong chính con người mình, Ngài Nyanaponika Thera thể hiện một khả năng phi thường trong việc làm hài hòa những sự tương phản, đối lập và biến chúng thành những phần bổ sung, bù vào. Chính điều này đã khiến Ngài trở thành một nhà luận giải Phật pháp quá đỗi uyên bác cho thế giới Phương Tây. Ngài kết hợp các năng lực lý trí, phân tích và phản biện của tư duy Phương Tây với các năng lực về sự cụ thể và trực giác của tư duy Phương Đông; kết hợp sự tách biệt và khách quan của một học giả với sự dấn thân tận tụy của một vị tu sĩ đang tu tập; kết hợp khả năng thẩm xét điềm tĩnh, không đan xen cảm xúc với sự quan tâm một cách chân thành và ấm áp đến hạnh phúc của đồng loại; kết hợp một nhận thức rõ ràng về tình trạng hiểm nguy của con người trong vực thẳm sâu kín của nó với một cái nhìn toàn diện trong các khía cạnh xã hội, chính trị và lịch sử của thân phận con người. Và trong tất cả các bài luận của mình, cho dù đôi khi Ngài có thể trở nên trí thức và uyên bác đến đâu chăng nữa, Ngài cũng không bao giờ cho phép bản thân việc nghiên cứu lý thuyết và phân tích kinh điển chiếm ưu thế đối với các kết quả thu được, mà thay vào đó Ngài luôn giữ chúng phụ thuộc vào mục đích điều chỉnh và kiểm soát của Pháp, là trí tuệ về con đường giải thoát khỏi mọi khổ đau.
Trong nhiều năm, khi nắm giữ chức vụ Tổng biên tập của Hiệp hội Xuất bản Phật giáo, Ngài Nyanaponika Thera tiếp tục công việc giải nghĩa và làm sáng tỏ Giáo pháp thông qua các bài luận của Ngài, được Hiệp hội xuất bản trong hai bộ sách ngắn, được đặt tên là Bánh Xe và Lá Bồ Đề. Cho đến nay, những tác phẩm này vẫn còn nằm riêng biệt và rải rác – dưới dạng những tập sách ngắn riêng lẻ, như là những lời giới thiệu về việc biên soạn kinh điển Phật giáo hoặc được bao gồm vào các cuốn hợp tuyển. Tuy nhiên, khi xem xét lại một cách tổng thể, tất cả các bài luận này mang đến cho chúng ta một trong những sự diễn đạt kỹ càng nhất, toàn diện nhất, và có thẩm quyền nhất trong thời hiện đại về Phật pháp, về một tầm nhìn của Pháp, vừa mang tính cá nhân một cách rõ rệt nhưng cùng lúc lại là một đại diện tốt nhất của truyền thống Phật giáo đích thực.
Mục đích của cuốn sách này là tập hợp các bài luận của Ngài Nyanaponika Thera đã được phát hành trong loạt bài Bánh xe và Lá bồ đề của Hiệp hội Xuất bản Phật giáo thành một cuốn sách hoàn chỉnh. Cuốn sách này bao gồm tất cả các bài luận gốc của Ngài đã được xuất bản trong hai loạt sách ngắn nói trên, ngoại trừ một số đoạn tiểu sử của các vị đệ tử lỗi lạc của Đức Phật, bài tiểu luận mang tính ngụ ngôn (“Thành phố của Tâm”) và những lời giới thiệu của Ngài về các bản dịch cho từng bản kinh riêng lẻ. Mặc dù các lời giới thiệu này mang tính soi sáng, chúng vẫn gắn liền một cách quá chặt chẽ với các bản kinh mà chúng giải thích nên không thể được xem là những bài tiểu luận độc lập. Ấn bản thứ hai này cũng bao gồm một bài luận giới thiệu về Pháp được dịch sang tiếng Anh từ bản gốc tiếng Đức và một bài luận ngắn về năm chướng ngại. Mặc dù hai bài luận này có rất ít nội dung được viết ra bởi chính Ngài Nyanaponika Thera, chúng thể hiện được cách thức đặc biệt của Ngài trong việc thu thập và sắp xếp những lời dạy súc tích và mạnh mẽ của Đức Phật theo cách có thể hỗ trợ các vị đệ tử trong nỗ lực áp dụng giáo pháp vào thực tế.
Có thể thấy rằng, Ngài Nyanaponika Thera không phải là một cây viết với văn phong phong phú. Tuy nhiên, nhược điểm của sự dài dòng trong văn phong của Ngài được bù đắp lại bởi những nét đặc biệt trong các tác phẩm của Ngài, bởi chiều sâu và sự tập trung của tư duy, bởi sự hiểu biết sâu sắc và rõ ràng, cũng như bởi những lời chỉ bảo trí tuệ và đầy thấu cảm. Xuất thân là một người Phương Tây đi cùng với kinh nghiệm tu tập trọn đời trong tu viện Phật giáo, giá trị của các bài luận của Ngài còn vượt xa hơn nữa, khi càng ngày càng có nhiều hơn những con người Phương Tây mong muốn tìm cách để hiểu các trải nghiệm Phật giáo theo cách riêng của họ cũng như so sánh nó với khung tham chiếu quen thuộc hơn đối với họ, những con người Phương Tây. Dưới đây là một ví dụ nhỏ, nhưng cho thấy tác động mà tác phẩm của Ngài đã mang lại. Sau khi cuốn Trái tim thiền Phật giáo được xuất bản, nhiều độc giả không hề quen biết với Ngài đã động tâm và viết thư gửi đến Ngài, bắt đầu một cách tự phát và độc lập rằng: “Kính bạch Thầy”.
Phần còn lại dưới đây sẽ cung cấp cho người đọc một bản phác thảo tiểu sử ngắn gọn của Ngài Nyanaponika Thera, một cái nhìn tổng quan về giáo lý Phật giáo Nguyên thủy đã truyền cảm hứng và cung cấp cho Ngài tầm nhìn của Pháp, cũng như một số thông tin cơ bản về các tác phẩm được bao gồm trong cuốn sách này.
Tiểu sử phác thảo của Ngài Đại Trưởng lão Nyanaponika Thera
Con người sau này trở thành Ngài Đại trưởng lão Nyanaponika Thera được sinh ra vào năm 1901 tại Hanau, Đức, với tên là Siegmund Feniger. Cha mẹ người Do Thái của Ngài đã dạy dỗ Ngài theo nền giáo dục tôn giáo truyền thống và ngay từ khi còn bé, Ngài đã bộc lộ một niềm yêu thích cá nhân sâu sắc đối với tôn giáo. Vào những năm cuối của tuổi thiếu niên, ngay sau khi bắt đầu công việc buôn bán sách, những mối nghi ngờ về mặt tôn giáo ngày càng trở nên khó chịu đã thúc đẩy Ngài thực hiện một cuộc tìm kiếm tâm linh mãnh liệt, mà trong quá trình đó Ngài đã tìm thấy những cuốn sách về Phật pháp. Khám phá mới này có sức hấp dẫn ngay lập tức. Càng đọc nhiều hơn, niềm tin của Ngài vào Giáo pháp ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn. Và ở tuổi hai mươi, Ngài đã tự xem mình là một Phật tử kiên định.
Trong những năm đầu tiên, Ngài theo đuổi việc tìm hiểu Phật pháp một mình, mà không có bất cứ một vị thầy hướng dẫn nào hay thậm chí không có cả một người bạn cùng chí hướng. Tuy nhiên, việc gia đình Ngài chuyển đến Berlin vào năm 1921 đã tạo cơ hội để Ngài tiếp xúc với các vị Phật tử người Đức. Rồi vài năm sau đó, tại Königsberg, chính Ngài đã hỗ trợ thành lập một nhóm nghiên cứu Phật pháp cùng với một thư viện sách cho mượn đặt tại cửa hàng của cha Ngài.
Trong những ngày đầu tìm hiểu về Phật pháp, thanh niên Siegmund đã tình cờ đọc được các tác phẩm của một vị tu sĩ người Đức có tên là Nyanatiloka, người đã gia nhập Tăng đoàn ở Miến Điện vào năm 1903, nhanh chóng thành tựu được khả năng thông thạo ngôn ngữ Pāli kinh điển một cách đáng kinh ngạc và trở thành một vị học giả, một vị thầy Phật giáo nổi tiếng. Nhờ vào các tác phẩm và bản dịch được xuất bản của Ngài mà danh tiếng của Ngài trong vai trò của một nhà luận giải có thẩm quyền về Giáo pháp được nâng cao ở châu Âu. Điều này đã thu hút một số lượng tuy nhỏ nhưng ổn định những người Phương Tây nhiệt tình mong muốn gia nhập Tăng đoàn. Và để có nơi đào tạo cho họ, Ngài đã thành lập một trung tâm dành cho tu sĩ Phương Tây được đặt tên là Island Hermitage, trên một hòn đảo nằm giữa một hồ nước ở phía Tây Nam của đảo quốc Sri Lanka (thời điểm đó là thuộc địa của Anh được gọi là Ceylon). Những tiếng tăm tốt đẹp về Ngài Nyanatiloka cùng với tu viện khổ hạnh của Ngài đã lan toả tới cộng đồng Phật tử ở Đức. Và khi thanh niên Siegmund biết đến những thông tin này, chúng đã gieo vào đầu anh ấy một ý định, mà dần dần đã phát triển thành một sự thôi thúc mang tính thuyết phục rằng: Hãy sang Châu Á để xuất gia trở thành một tu sĩ Phật giáo.

Ngài Đại trưởng lão Hoà thượng Nyanatiloka Mahāthera
Trong nhiều năm, kế hoạch của Siegmund đã bị trì hoãn do bởi cái chết của cha mình cũng như do bởi tình hình chính trị ngày càng trở nên đen tối ở Đức. Vì vậy, phải đến đầu năm 1936, anh ấy mới có thể rời Châu Âu sang Sri Lanka, gia nhập cùng với Ngài Nyanatiloka tại Island Hermitage. Sau vài tháng học tập chuẩn bị, vào tháng 6 năm 1936, Siegmund xuất gia, thọ giới sa di. Và vào năm sau đó, Ngài thọ cụ túc giới (upasampadā) trở thành một vị Tỳ-khưu (bhikkhu), một tu sĩ chính thức, với pháp danh là Nyanaponika, có nghĩa là “dòng chảy hướng tới trí tuệ”. Dưới sự hướng dẫn của vị thầy của mình, Ngài bắt đầu học tiếng Pāli và nghiên cứu giáo lý Phật giáo Nguyên thủy, đồng thời cũng tự mình học tiếng Anh, là ngôn ngữ mà trước đây Ngài chưa bao giờ học. Trong một thời gian ngắn, sau khi hoàn thành các nghiên cứu cơ bản của mình, Ngài chuyển đến sống và tu tập tại một vùng nội địa ôn đới cũng như bắt đầu những nỗ lực đầu tiên trong công việc dịch thuật kinh điển Pāli sang tiếng Đức, một công việc dài hạn.
Khi chiến tranh giữa Đức và Anh bùng nổ vào năm 1939, giống như tất cả nam giới người Đức cư trú tại các thuộc địa của Anh, cả Ngài Nyanatiloka và Ngài Nyanaponika đều bị đưa vào giam giữ tại các trại tập trung — đầu tiên là ở ngay tại Sri Lanka và sau đó là ở Dehra Dun, miền bắc Ấn Độ. Nhưng không hề nản lòng trước hoàn cảnh khó khăn của việc bị giam giữ, các Ngài tu sĩ học giả vẫn tiếp tục công việc của mình. Ngài Nyanaponika đã hoàn thành xong bản dịch sang tiếng Đức của Kinh Tập (Sutta Nipāta), cũng như một số bài luận trong Vi Diệu Pháp và một tuyển tập các đoạn kinh về Tứ Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna). Sau khi được tự do, rời khỏi trại tập trung và trở về Sri Lanka vào năm 1946, Ngài tiếp tục theo đuổi hướng đi được khuyến khích bởi nghiên cứu của Ngài về Vi Diệu Pháp, bởi những kết quả được làm sáng tỏ thông qua các nghiên cứu về Vi Diệu Pháp của Ngài, một nỗ lực khám phá táo bạo nhằm phát lộ ra những hàm ý triết học và tâm lý học của công trình hệ thống hóa Phật pháp phức tạp này, Vi Diệu Pháp.
Vào đầu những năm 1950, Ngài Nyanatiloka và Ngài Nyanaponika đã sang Miến Điện để tham gia các buổi hội đàm liên quan đến sự kiện Đại hội kết tập Tam tạng kinh điển Phật giáo lần thứ sáu trong lịch sử của truyền thống Phật giáo Nguyên thuỷ, được chính phủ Miến Điện dự định tổ chức vào năm 1954 nhằm mục đích xem xét, biên tập cũng như in ấn lại toàn bộ Kinh điển Pāli và các bài chú giải. Sau khi các buổi hội đàm kết thúc, Ngài Nyanaponika Thera đã ở lại Miến Điện thêm một thời gian nữa để tu tập thiền Tứ Niệm Xứ dưới sự hướng dẫn của một vị thiền sư nổi tiếng, Ngài Đại trưởng lão Mahāsi Sayadaw. Kinh nghiệm này đã để lại một ấn tượng sâu sắc và thôi thúc Ngài viết cuốn Trái tim thiền Phật giáo nhằm chia sẻ đến mọi người những lợi ích của phương pháp rèn luyện tâm của Phật giáo. Vào năm 1954, cả hai thầy và trò Ngài Nyanaponika Thera trở lại Miến Điện tham dự lễ khai mạc Đại hội kết tập Tam tạng kinh điển Phật giáo lần thứ sáu. Và vào năm 1956, Ngài Nyanaponika Thera trở lại một mình để tham dự lễ bế mạc. Ngoại trừ các vị tu sĩ Phật giáo người Hy Lạp tham gia vào Đại hội kết tập Tam tạng kinh điển Phật giáo lần thứ ba ở Ấn Độ, hai vị Đại trưởng lão người Đức, hai thầy trò Ngài Nyanaponika Thera, là những người phương Tây đầu tiên tham gia vào hội nghị trọng đại này của truyền thống Phật giáo Nguyên thủy.
Bước ngoặt quan trọng nhất trong cuộc đời tu tập của Ngài Nyanaponika Thera trong vai trò của một vị thầy giảng dạy Phật pháp bắt đầu vào năm 1958. Không lâu sau khi vị thầy của Ngài qua đời, cùng với hai người bạn cư sĩ đến từ Kandy, Ngài đã thành lập Hiệp hội Xuất bản Phật giáo (Buddhist Publication Society — BPS). Ban đầu, BPS được thành lập với ý tưởng chỉ để phát hành một số lượng hạn chế các tập sách nhỏ về những nguyên tắc cơ bản và cốt lõi của Phật pháp. Tuy nhiên, những phản hồi từ độc giả đối với các ấn bản đầu tiên đã rất tích cực, vượt quá sự mong đợi của các thành viên sáng lập. Điều đó khuyến khích họ tiếp tục việc xuất bản. Nhờ vậy, BPS đã tồn tại và phát triển một cách đều đặn.
Trong các tác phẩm của mình được viết trước khi thành lập BPS, Ngài Nyanaponika Thera đã phát triển được một tầm nhìn về Phật pháp như là giải pháp khả thi nhất cho những khủng hoảng và hỗn loạn mà con người hiện đại đang phải đối mặt: Một phương pháp thực tế, mang tính tự nghiệm để con người khám phá lại ý nghĩa đích thực cho sự tồn tại của mình cũng như kiềm chế sự thù hận, tàn ác và bạo lực đang lan tràn trong thế giới hiện đại. Giờ đây, với tư cách là Chủ tịch và Tổng biên tập của BPS, Ngài Nyanaponika Thera nhận thấy mình có cơ hội để chuyển đổi tầm nhìn này từ các hướng dẫn mang tính cá nhân, là kết quả từ công việc viết ra các bài luận giải Phật pháp của bản thân mình, trở thành triết lý vận hành của toàn bộ Hiệp hội BPS, nhắm đến mối quan tâm đối với Phật pháp mới bắt đầu chớm nở trên toàn thế giới. Để đáp lại nhu cầu này, Ngài Nyanaponika Thera đã hoàn toàn chuyên tâm quên mình vào công việc tại BPS, quá chuyên tâm đến nỗi tiểu sử cá nhân của chính Ngài gần như biến mất vào trong lịch sử lớn hơn của BPS. Ngài tự tay mình viết các bài luận, ủy thác công việc đến các cây viết Phật giáo khác, sưu tầm và dịch kinh, biên soạn các tuyển tập nhằm liên hệ Phật pháp với các vấn đề đang được quan tâm ở đương đại, phát hành lại các ấn phẩm kinh điển Phật giáo cũ đã hết bản in cũng như tìm kiếm và khuyến khích các tác giả còn ít kinh nghiệm phát triển tài năng và đóng góp cho Hiệp hội. Thước đo sự thành công của Ngài trong việc thành tựu mục tiêu của mình được biểu thị bằng sự thành công của chính BPS, mà ngày nay là một trong những nhà xuất bản các ấn phẩm Phật giáo Nguyên thuỷ bằng tiếng Anh với số lượng nhiều nhất trên thế giới, cùng với Hội Văn bản Pāli (Pāli Text Society). Phạm vi rộng lớn các ấn phẩm của BPS, với uy tín về tính đúng đắn cũng như chuẩn mực văn phong và giá trị giảng dạy cao cấp của nó, tạo nên một thư viện đồ sộ bao gồm hầu như tất cả các khía cạnh của truyền thống Phật giáo Nguyên thủy.
Vào thời điểm tháng 10 năm 1993, khi Lời giới thiệu này cho ấn bản lần thứ hai của tác phẩm Tầm nhìn của Pháp được viết ra, Ngài Nyanaponika Thera đang sống lặng lẽ và ẩn dật tại tu viện khổ hạnh Forest Hermitage, trong Khu bảo tồn Udawattakele tại Kandy, là nơi ở của Ngài trong suốt bốn mươi năm qua. Sau sinh nhật lần thứ 92, Ngài tiếp tục tận hưởng sức khoẻ tốt của mình, dù rằng thị lực bị suy giảm nghiêm trọng. Những công trình to lớn của Ngài được ghi nhận cả trên trường quốc tế cũng như tại đất nước đã nuôi dưỡng Ngài, điều mà Ngài rất xứng đáng nhận được. Ngài nhận lãnh những điều đó hoàn toàn trong đức khiêm cung. Vào năm 1978, Ngài được phong làm thành viên danh dự của Hiệp hội Đông phương Đức (German Oriental Society). Trong hội nghị đại học lần thứ nhất được tổ chức vào năm 1987, trường Đại học Phật giáo và ngôn ngữ Pāli Sri Lanka đã trao cho Ngài bằng Tiến sĩ Văn học danh dự đầu tiên của trường. Vào năm 1990, Ngài nhận được bằng Tiến sĩ Văn học danh dự của Đại học Peradeniya. Và vào năm 1993, Amarapura Nikāya, chi hội của Tăng đoàn Phật giáo mà Ngài thọ giới vào 56 năm trước đó, đã phong tặng cho Ngài danh hiệu danh dự Amarapura Mahā Mahopadhyāya Sāsana Sobhana, Ngài Đại Cố vấn của Amarapura Nikāya, Niềm vinh dự của Giáo pháp.
Tóm tắt giáo lý Phật giáo Nguyên Thuỷ (Theravāda)
Ngài Nyanaponika Thera viết các bài luận và tác phẩm của Ngài trong vai trò của một vị tu sĩ Phật giáo Nguyên thủy. Mặc dù bản thân các bài luận đó hoàn toàn là dễ hiểu, một bản tóm tắt ngắn gọn về giáo lý Phật giáo Nguyên thủy sẽ làm phong phú ý nghĩa của chúng cho người đọc, bằng cách chỉ ra bối cảnh mà chúng xuất hiện cũng như nội dung của giáo lý mà các bài luận đang nhắm đến để giải thích chi tiết và khám phá. Phật giáo Nguyên thủy, hay còn được gọi là “Giáo lý của những người lớn tuổi”, là truyền thống Phật giáo liên tục và lâu đời nhất cũng như là truyền thống đã bảo tồn một cách cẩn thận nhất những giáo lý nguyên bản của Đức Phật lịch sử. Ngày nay, Phật giáo Nguyên thuỷ thịnh hành ở các quốc gia Sri Lanka, Miến Điện và Thái Lan với một sự tuân thủ thống nhất đáng kinh ngạc. Phật giáo Nguyên thủy được phân biệt với các truyền thống Phật giáo khác ở phía Bắc và Viễn Đông, Phật giáo Đại thừa (Mahāyāna Buddhism), bởi một lập trường giáo lý thận trọng, bởi một thế giới quan thực tế, bởi chủ nghĩa kinh nghiệm trên thực tế – chống suy đoán và bởi một sự nhấn mạnh nhất quán về trách nhiệm của cá nhân. Từ một góc độ nhất định nào đó, Phật giáo Nguyên thủy có thể được xem chỉ như là một truyền thống Phật giáo trong nhiều truyền thống Phật giáo khác nhau đang tồn tại. Tuy nhiên, với vai trò bảo tồn giáo lý nguyên bản của Đức Phật, nó cũng có thể được xem là nguồn gốc của toàn bộ di sản Phật giáo mà từ đó tất cả các truyền thống Phật giáo khác đã được sinh ra.
Đối với quan niệm về Đức Phật, đặc điểm nổi bật của Phật giáo Nguyên thủy là sự nhấn mạnh vào tính nhân văn và tính chất lịch sử hoàn toàn có thực của Ngài. Đối với những vị đệ tử của Phật giáo Nguyên thủy, Đức Phật, người đã sống và giáo huấn ở miền bắc Ấn Độ vào thế kỷ thứ năm trước Công nguyên, không phải là một vị thần, không phải là một hiện thân thiêng liêng hay là một nguyên lý vũ trụ được biểu hiện bằng thân xác của con người. Ngài là người đầu tiên cũng như là người lỗi lạc nhất đã tìm ra con đường giải thoát khỏi mọi khổ đau. Việc đạt được sự giác ngộ dưới gốc cây bồ đề là một thành tựu của con người, được thực hiện bằng sự nỗ lực, bằng sự kỷ luật tự giác nghiêm ngặt và bằng sự phân tích, thẩm xét trí tuệ của chính Ngài. Đối với thế giới này, nhiệm vụ của Ngài không phải là một vị cứu tinh, mà là một vị thầy. Vì lòng bi mẫn đối với mọi chúng sinh, Ngài chỉ ra con đường dẫn đến sự chấm dứt đau khổ. Mỗi một cá nhân tìm kiếm mục tiêu đoạn diệt khổ đau sẽ phải tự mình bước đi trên con đường đã được chỉ ra, dựa vào sức mạnh và trí tuệ của chính mình, và tất nhiên là cùng với những chỉ dẫn mà Đức Phật đã trao truyền.
Phật pháp, những lời dạy của Đức Phật, hay còn được gọi là Pháp, là giáo lý về sự giải thoát mà chính Đức Phật đã tự mình khám phá thông qua sự giác ngộ của mình và được tuyên bố dựa trên cơ sở của một sự hiểu biết rõ ràng của chính Ngài về thực tại. Cách diễn đạt ngắn gọn nhất của Pháp, trong khuôn khổ thống nhất của nó, là giáo lý Tứ Diệu Đế (bốn sự thật cao thượng về khổ) bao gồm: Khổ, nguồn gốc của khổ, sự đoạn diệt khổ và con đường đưa đến sự đoạn diệt khổ. Đó là một nhận thức vĩ đại được mở ra trong tâm trí của Đức Phật sau sáu năm Ngài nỗ lực ngồi thiền cần mẫn không ngừng nghỉ dưới gốc cây bồ đề. Nó không chỉ là dàn ý nội dung cho sự giác ngộ của Ngài, mà còn là một thông điệp quan trọng và liên tục của Ngài gửi đến thế giới này, đưa ra những sự thật quan trọng không thể nhầm lẫn được mà toàn bộ triển vọng giải thoát của con người phụ thuộc vào đó.
Cả bốn sự thật này đều xoay quanh việc thừa nhận đau khổ (dukkha) như là vấn đề trọng tâm trong sự tồn tại của con người. Và trong sự thật đầu tiên, Đức Phật liệt kê ra những hình thức đa dạng của khổ đau. Khi được quán niệm một cách chi tiết, sự thật cao thượng đầu tiên chỉ ra một chiều kích sâu sắc hơn của đau khổ, so với những ý niệm thông thường của chúng ta về nỗi đau, sự buồn phiền và thất vọng. Nó chỉ ra ý nghĩa cơ bản của đau khổ, là sự bất toại nguyện và sự không thoả đáng từ tận trong gốc rễ của mọi thứ được điều kiện hoá, xảy ra bởi nhân duyên (pháp hữu vi). Thực tế là bất cứ điều gì được sinh ra bởi nhân duyên cũng đều vô thường và cuối cùng chắc chắn phải đoạn diệt, và đó là nguyên nhân của khổ đau. Khía cạnh này của khổ được nhìn thấy một cách rõ ràng nhất trong biểu hiện toàn diện nhất của vô thường và các hiểm hoạ: Vòng tái sinh vô thỉ trong đó tất cả chúng sinh đều xoay vòng, luân hồi (saṃsāra). Vì vậy, để hiểu rõ được sự thật cao thượng đầu tiên trong phạm vi và chiều sâu đầy đủ của nó, nếu chỉ xem xét những đau khổ trong một cuộc đời thôi là chưa đủ, mà cần phải tính đến toàn bộ vòng luân hồi với các giai đoạn lặp đi lặp lại mãi của nó bao gồm: sinh, lão, bệnh và tử.
Trong sự thật cao thượng thứ hai, Đức Phật truy tìm nguồn gốc hay nguyên nhân của đau khổ mà Ngài xác định là tham ái (taṇhā). Bản thân nó là sản phẩm của sự thiếu hiểu biết, của việc không nhận thức được bản chất đích thực của sự vật và hiện tượng rằng, tham ái được khởi sinh lên ở bất cứ nơi nào có triển vọng của hoan lạc và sự thích thú, mang theo cùng với nó vô số các phiền não tinh thần, tạo nên biết bao nhiêu là đau khổ cho con người: Lòng tham và tham vọng, hận thù và giận dữ, ích kỷ và đố kỵ, ngã mạn, kiêu căng, và tự phụ.
Tham ái làm khởi sinh đau khổ, không chỉ bằng cách gây ra một nỗi đau tức thời do bởi tâm mong muốn hoặc do bởi cảm giác thiếu thốn, mà còn thể hiện một cách rõ rệt hơn trong ngữ cảnh của bốn sự thật cao thượng, bằng cách tạo nên chuỗi tái sinh và do đó duy trì sự ràng buộc vào luân hồi. Tuy nhiên, theo quan điểm của Phật pháp, quá trình tái sinh không liên quan đến sự chuyển sinh của một bản ngã hay linh hồn. Bởi vì, luận điểm cho rằng mọi thứ đều liên tục thay đổi của Phật pháp loại trừ việc một thực thể bền vững di chuyển từ đời này sang đời khác. Tính liên tục của chuỗi các sự tái sinh được duy trì không phải do bởi một bản ngã đồng nhất tồn tại xuyên suốt những sự thay đổi, mà là do bởi sự chuyển giao các dấu vết và khuynh hướng đi cùng với “dòng tâm thức” cá nhân hay dòng ý thức mà các dấu vết và khuynh hướng này được khởi sinh lên ở bên trong đó. Chiều hướng của dòng tâm thức này, được chuyển giao từ đời này sang đời khác, bị chi phối bởi một quy luật gọi là nghiệp (kamma). Nghiệp có nghĩa là hành động có chủ ý. Theo giáo lý về nghiệp, chính những hành động có chủ ý của chúng ta, bao gồm thân, khẩu và ý, sẽ quyết định các hình thức tồn tại mà chúng ta khoác lên trong mỗi lần lưu trú liên tục, đi qua vòng luân hồi bất tận này. Về mặt bản chất, quy luật kết nối các hành động của chúng ta và những hình thức tồn tại mà chúng ta sẽ khoác lên chính là phẩm hạnh đạo đức trong các hành động xảy ra: Những hành động thiện sẽ dẫn đến hạnh phúc cũng như dẫn đến các hình thức tái sinh ở cấp cao hơn, những hành động bất thiện sẽ dẫn đến đau khổ cũng như dẫn đến các hình thức tái sinh ở cấp thấp hơn. Tuy nhiên, cho dù số phận của một người có đang đi lên hay đi xuống, chừng nào tham ái và sự thiếu hiểu biết còn tồn tại sâu thẳm ở trong tâm, thì vòng sinh tử, vòng đau khổ vĩ đại này sẽ vẫn cứ tiếp tục vận hành.
Tuy nhiên, vòng luân hồi luẩn quẩn này không nhất thiết cứ phải kéo dài mãi mãi. Trong sự thật cao thượng thứ ba, Đức Phật đã tuyên bố điểm mấu chốt để chấm dứt nó. Bởi vì đau khổ khởi sinh do tham ái, nên nếu tham ái bị đoạn diệt, thì đau khổ cũng sẽ phải chấm dứt. Đây là một mối quan hệ logic chặt chẽ và tất yếu. Trạng thái xuất hiện sau đó, và cũng là mục tiêu của mọi nỗ lực của người đệ tử trong truyền thống Phật giáo Nguyên thủy, là Niết-bàn (Nibbāna), Vô vi, Bất tử, sự bình an bất diệt vượt ra khỏi vòng sinh tử. Việc thành tựu Niết-bàn diễn ra trong hai giai đoạn. Đầu tiên là “Hữu-dư Niết-bàn”, khi việc giải thoát tâm đã được hoàn thành, mọi phiền não đều đã bị dập tắt. Tuy nhiên, sự kết hợp giữa thân và tâm được hình thành khi sinh ra vẫn tiếp tục tồn tại cho đến hết kiếp sống ở hiện tại. Giai đoạn thứ hai là “Vô-dư Niết-bàn”, là sự giải thoát khỏi chính sự tồn tại, đoạn diệt tái sinh, khi Đấng giải thoát nhập diệt.
Trong sự thật cao thượng thứ tư, Đức Phật chỉ dạy con đường dẫn đến Niết-bàn, “con đường dẫn đến sự đoạn diệt khổ đau”. Con đường đó được gọi là Bát Chánh Đạo, con đường với tám nhánh (tám chi phần) bao gồm: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định. Tám yếu tố này thường được sắp xếp thành ba nhóm theo mức độ phát triển tăng dần lên là Giới (sīla), Định hay thanh lọc tâm (samādhi) và Tuệ (paññā). Sẽ cần có một mức độ tối thiểu của chánh kiến và chánh tư duy để bắt đầu quá trình rèn luyện, và sau đó con đường sẽ được trải ra ba nhóm Giới, Định và Tuệ như là một chiến lược có hệ thống, được thiết kế để nhổ bật tận gốc rễ những phiền não tạo nên khổ đau. Giới sẽ hạn chế những phiền não ở dạng thô nhất, ngăn chặn chúng tuôn ra trong những hành động bất thiện; Định loại bỏ những hình thức tinh tế hơn của phiền não, ví dụ như những suy nghĩ xao lãng và bồn chồn; và Tuệ diệt trừ những khuynh hướng tiềm ẩn tinh tế của phiền não, bằng cách xuyên thấu vào chúng với một sự hiểu biết sâu sắc và trực tiếp về ba đặc tính cơ bản của mọi sự tồn tại như đã được Đức Phật tổng kết bao gồm: Vô thường, khổ và vô ngã.
Đối với mỗi một sự thật trong bốn sự thật cao thượng, Đức Phật giao cho người đệ tử một nhiệm vụ cụ thể, một công việc mà họ cần phải nắm vững trong quá trình tu tập. Sự thật về khổ cần phải được hiểu một cách đầy đủ và trọn vẹn, các tham ái và phiền não tạo nên khổ đau cần phải được loại bỏ, Niết-bàn — sự giải thoát khỏi khổ đau cần phải được chứng ngộ, và Bát Chánh Đạo — con đường dẫn đến giải thoát cần phải được tu tập và phát triển. Người đã hoàn thành trọn vẹn được bốn công việc này là hình tượng lý tưởng của vị đệ tử trong truyền thống Phật giáo Nguyên thủy. Đó là một bậc A-la-hán, Đấng Giải thoát, người đã phá vỡ mọi ràng buộc với vòng luân hồi và sống trong trải nghiệm tự do của Niết-bàn.
Thông tin bối cảnh về các bài luận trong hợp tuyển này
Dưới đây, chúng tôi sẽ cung cấp một số thông tin bối cảnh của các bài luận ở trong bộ hợp tuyển này cũng như liên hệ chúng một cách ngắn gọn đến khung sườn mà chúng ta vừa mới phác thảo ở trên về giáo lý Phật giáo Nguyên thủy.
Bài luận đầu tiên trong tuyển tập này, “Con đường giải thoát khổ đau”, chưa từng được BPS xuất bản trong bộ sách ngắn Bánh xe hoặc Lá bồ đề. Bài luận gốc được viết bởi Ngài Nyanaponika Thera bằng tiếng Đức, là một lời giới thiệu ngắn gọn về Phật pháp được cấu trúc xoay quanh bốn sự thật cao thượng Tứ Diệu Đế. Nó được BPS phát hành nhiều lần với số lượng in hạn chế dành cho các độc giả tiếng Đức, đặc biệt là các du khách người Đức đến Sri Lanka, những người tò mò muốn tìm hiểu thêm về Phật giáo, một tôn giáo nổi trội trong nền văn hóa lâu đời của nước này. Bài luận được dịch sang tiếng Anh bởi tác giả Phật giáo người Anglo-Catalan có tên là Amadeo Solé-Leris và phiên bản tiếng Anh được xuất bản lần đầu ở trong cuốn sách này.
“Lớp da bị bào mòn” là một loạt các nghiền ngẫm về Kinh Uraga, là một bài thơ Phật giáo cổ xưa trong Kinh Tập, mà như chúng tôi có lưu ý ở trên, là bản kinh đã được Ngài Nyanaponika Thera dịch toàn bộ sang tiếng Đức trong những năm chiến tranh. Bài thơ mô tả nỗ lực của một nhà sư nhằm mục đích loại bỏ mọi phiền não và ảo tưởng để đạt đến sự giải thoát khỏi tính hai mặt của pháp hữu vi. Các chú giải về bài thơ của Ngài Nyanaponika Thera mạnh mẽ thể hiện sự hiểu biết của Ngài về Pháp. Nó cho thấy sự phong phú, chiều sâu và sự sắc bén về mặt tâm lý học trong các suy nghĩ của Ngài. Nó cũng còn cho thấy nỗ lực của Ngài trong việc liên hệ những kiến thức sâu sắc của Phật pháp với tri thức Phương Tây cũng như với các trải nghiệm sống hàng ngày của người Phương Tây.
Bài luận “Sức mạnh của chánh niệm,” cũng giống với cuốn Trái tim thiền Phật giáo, đề cập đến việc thực hành chánh niệm, chi phần thứ bảy của Bát Chánh Đạo. Bài luận khác với cuốn sách ở trong phạm vi chuyên biệt hơn của nó. Cuốn Trái tim thiền Phật giáo khám phá chánh niệm một cách toàn diện, xem xét cụ thể chi phần chánh niệm trong sự kết hợp với các chi phần khác của con đường cũng như bao trùm toàn bộ phạm vi ứng dụng của nó. Trong khi đó, “Sức mạnh của chánh niệm” lại nhằm mục đích khảo sát tiềm năng của chánh niệm theo đúng như ý nghĩa của nó, là khả năng ghi nhận thuần túy. Bài luận cũng giải thích về hiệu quả nhẹ nhàng nhưng quan trọng của chánh niệm trong việc thúc đẩy thanh lọc tâm trí.
Bài luận “Gốc rễ của thiện và ác” bao gồm một tuyển tập các đoạn trích kinh cùng với các chú giải, được giới thiệu và dịch bởi Ngài Nyanaponika Thera, xen kẽ với những nhận xét và giải thích của chính Ngài. Trong toàn bộ các tác phẩm của mình, Ngài Nyanaponika Thera luôn nhấn mạnh về Phật pháp như là gốc rễ đưa ra các góc nhìn cao cấp về mặt tâm lý học và đạo đức, đặt trên cùng một nội dung giáo lý cơ bản được bao phủ bởi Tứ Diệu Đế. Ngài đặc biệt lo lắng vì không có bất kỳ một bàn luận chi tiết nào về chủ đề này trong các sách về Phật giáo ở phương Tây, kể cả những tác phẩm lớn về các quy tắc của Phật giáo. Và để điền vào khoảng trống này, Ngài đã tự mình chuẩn bị bộ sưu tập “Gốc rễ của thiện và ác”. Có 45 đoạn trích kinh được xuất bản trong loạt sách ngắn Bánh xe. Trong cuốn sách này, chúng tôi chỉ giữ lại 35 đoạn trích mà Ngài Nyanaponika Thera cảm thấy là quan trọng nhất.
Hợp tuyển “Năm chướng ngại phát triển tâm linh” là một tuyển tập ngắn các đoạn trích kinh, chủ yếu từ Kinh Tạng, với lời giới thiệu ngắn gọn của Ngài Nyanaponika Thera. Bộ hợp tuyển này đặc biệt hữu ích đối với thiền sinh, giúp họ xác định những chướng ngại chính trong quá trình hành thiền cũng như đưa ra những lời dạy của chính Đức Phật về cách đối trị và khắc phục các chướng ngại này.
Bài luận tiếp theo, “Bốn loại thức ăn cho sự sống”, được chọn đưa vào cuốn sách này với một chút do dự. Lúc ban đầu, chúng tôi e ngại rằng bài luận này và bản kinh của Đức Phật mà nó giải nghĩa có thể là một liều thuốc quá mạnh đối với những độc giả ít tiếp xúc với Giáo pháp trước đó. Tuy nhiên, sau khi cân nhắc một cách kỹ lưỡng, chúng tôi quyết định rằng, chính lý do được cân nhắc để không đưa bài luận này vào hợp tuyển — sự tiết lộ mạnh mẽ của nó về mối nguy hiểm to lớn gắn liền với các công việc thường nhật có vẻ như là vô hại và thú vị trong cuộc sống — lại là một lý do thậm chí còn tốt hơn để đưa bài luận này vào. Bởi vì, nó có tác dụng làm chấn động, giúp chúng ta thoát khỏi sự tự mãn thiếu suy nghĩ trong những công việc mà chúng ta vẫn thực hiện hàng ngày, cũng như chỉ ra vực thẳm của khổ đau được treo lơ lửng không ngừng ở đó. Bộ sách ngắn Bánh xe bao gồm một tuyển tập các bài kinh cùng với rất nhiều đoạn trích từ các chú giải. Tuy nhiên, chỉ có bản kinh “Xác thịt của người con trai” được đưa vào đây. Bởi vì nó có liên quan trực tiếp đến bài luận “Bốn loại thức ăn cho sự sống”.
Sau khi tìm hiểu đến cùng chân lý về khổ, đi xuống đến tận độ sâu đen tối và trừng phạt nhất của nó, trong ba bài luận tiếp theo, chúng ta sẽ đi lên trở lại như được giáo lý chỉ ra trong sự thật cao thượng thứ ba và thứ tư: Mục tiêu và con đường. Bài luận “Tam quy Phật giáo” đề cập đến việc đầu tiên cần thực hiện, ngay khi bước vào con đường Phật đạo, quy y Tam Bảo – Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo; cách trình bày đầy cảm hứng của nó thu hút sự chú ý đến khía cạnh kính tín thường bị xem nhẹ trong Phật giáo Nguyên thủy cũng như giúp sửa chữa quan niệm sai lầm phổ biến rằng, Phật giáo Nguyên thủy là một hệ thống trong đó khổ hạnh và trí óc chiếm ưu thế, mà thiếu đi mất sự sôi nổi về mặt cảm xúc. Bài luận tiếp theo “Tứ vô lượng tâm” tiếp tục với công việc chỉnh sửa này. Nó bao gồm một loạt các bài suy ngẫm, mà hầu hết là những bài thơ kệ, về những trạng thái tâm rộng mở, cao cả, thành tựu được khi những rào cản làm hạn chế của việc bám chấp lấy bản ngã làm trung tâm biến mất và khi tâm phát triển được khả năng tham dự vào hạnh phúc cũng như đau khổ của người khác một cách mãnh liệt nhưng cùng lúc lại vô tư và tách biệt. Bài luận cuối cùng, “Vô ngã và Niết-bàn”, sắp xếp kiến thức uyên bác của tác giả về truyền thống Phật giáo Nguyên thủy để xử trí một vấn đề khó khăn và thường gây bối rối về mối quan hệ giữa hai giáo lý cốt lõi này trong Phật pháp: Giáo lý về vô ngã như là một quan điểm triết học cơ bản và quan niệm Niết-bàn như là mục tiêu cuối cùng của sự phấn đấu tu tập.
Trong các bài luận ngắn hơn, “Nhìn mọi việc như chúng đang là” là phiên bản mở rộng hơn một chút của Lời nói đầu được tác giả viết cho cuốn tuyển tập mà ông biên tập có tựa đề là “Ba sự thật cơ bản của sự tồn tại”. Bài luận “Phật giáo và Quan điểm về Thượng đế” và “Quán thọ” là phần giới thiệu cho các tuyển tập kinh; Bài luận “Kính tín trong Phật giáo” và “Nghiệp và quả” đóng góp vào tuyển tập các bài luận liên quan đến các chủ đề này. Bài luận “Đức tin dũng mãnh” và “Tại sao lại đoạn diệt đau khổ?” xuất hiện trong bộ sách ngắn Bánh xe dưới tựa đề “Thành phố của Tâm” cũng như trong các cuốn khác, và bài luận “Được bảo vệ nhờ Chánh niệm” đã được phát hành trong bộ sách ngắn Lá bồ đề.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới hai người đã không ngừng hỗ trợ để hoàn thành cuốn sách này. Người đầu tiên chính là Ngài Nyanaponika Thera, là bậc thiện tri thức đặc biệt (kalyāṇa mitta — người bạn cao quý) của chính tôi trong suốt hai thập kỷ qua. Ngay cả khi bị thúc ép bởi các bổn phận khác, Ngài Nyanaponika Thera vẫn luôn luôn sẵn sàng đặt chúng sang một bên để xem xét tài liệu đang được biên soạn và đưa ra lời khuyên cũng như các đề xuất để cuốn sách được ra đời đúng như nguyện vọng của mình. Người còn lại là bà Helen Wilder (nay là Ayyā Nyanasirī), một người bạn tận tụy, là người trợ lý của Ngài Nyanaponika Thera và cũng là người đọc bài biên tập cho BPS. Chính cô là người đầu tiên đề xuất với tôi ý tưởng về việc hợp tuyển các bài luận của Ngài Nyanaponika Thera. Sự hỗ trợ giỏi giang và tận tình của cô ngay từ lúc ban đầu cho đến lúc hoàn thành cuốn sách đã giúp mọi việc được tiến hành suôn sẻ hơn nhiều so với những gì có thể làm được.
Tỳ-kheo Bodhi
Viet Hung | A Happiness pursuer | Author of The Happiness Journal, Tản mạn về Hạnh phúc and NGẪM CAFÉ
Sách tôi dịch: Trái tim thiền Phật giáo, Thiền cho người mới bắt đầu, Nổi loạn và tự do, Bài chú giải Kinh Mangala Sutta, Sức mạnh của sự hoài nghi và thiền chánh niệm (Vipassana), Những nguyên lý để sống hạnh phúc, Chúng ta đang sống vì điều gì?, Sự cho đi và Tình thương yêu, “Lấy tâm mình làm bạn của chính mình”, Cảm xúc, Thiền với sự hình dung, Căng thẳng, Bản chất cao thượng, Hãy nương tựa vào chính mình, Khuôn mặt vĩ đại trên núi đá, Năm chướng ngại phát triển tâm linh và cách chinh phục
Get your source of inspiration and motivation toward reaching happiness here: https://www.viethungnguyen.com
57 thoughts on “Tầm nhìn của Pháp”