[TNCP] Tam quy Phật giáo

Phần trước | Mục lục | Phần kế

Nghe trên Youtube

Nghe trên Soundcloud

Nghe trên Spotify

Ở mọi quốc gia Phật giáo, tín đồ của Đức Phật đều tuyên bố lòng trung thành của mình đối với Ngài và Giáo lý giải thoát của Ngài bằng một nghi thức cổ xưa, đơn giản nhưng vô cùng cảm động được gọi là quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng.

“Quy y”, như bản thân nghi thức tượng trưng này gợi ý, phải là một hành động có ý thức, chứ không chỉ là tuyên bố đơn thuần về một đức tin mang tính lý thuyết suông hoặc là một nghi thức được thực hiện theo thói quen, được đặt trên nền tảng của một sự sùng đạo mang tính truyền thống. Quy y để tìm về với sự nương tựa, tìm về với sự bảo vệ là có thật, nhưng chúng ta phải tự mình nỗ lực đi đến đó. Nó sẽ không tự đến với chúng ta, nếu chúng ta vẫn cứ ở nguyên tại chỗ. Như Đức Phật đã nhiều lần tuyên bố, Ngài chỉ là người thầy, “chỉ ra con đường”. Do đó, việc quy y, thể hiện đức tin vào Phật pháp (saddhā), trước hết phải là một hành động có ý thức của ý chí và của một sự quyết tâm hướng đến mục tiêu giải thoát. Như vậy, quan niệm về đức tin như chỉ là một sự chờ đợi thụ động “ơn trên cứu rỗi” bị bác bỏ.

Trong các bản chú giải Pāli, có một phát biểu đáng chú ý như sau, cụm từ “quy y” còn mang thêm ý nghĩa là “biết” và “hiểu biết”. Điều này chỉ ra khía cạnh thứ hai của quy y — là một hành động có ý thức của sự hiểu biết. Do đó, một sự cả tin thiếu suy nghĩ cũng như một đức tin mù quáng căn cứ vào các yếu tố bên ngoài bị bác bỏ.

Các nhà chú giải nhấn mạnh khía cạnh này bằng cách mô tả việc quy y như là một trạng thái tâm không tin cậy vào người khác (aparapaccaya). Trong rất nhiều dịp, Đức Phật đã cảnh báo các đệ tử của Ngài rằng, không nên chấp nhận giáo lý vì một sự tin tưởng thuần tuý ở nơi Ngài, mà thay vào đó chỉ nên chấp nhận sau khi đã tự mình kinh nghiệm, thực hành và suy ngẫm. Ở đây, có lẽ chỉ cần nhắc lại bài kinh nổi tiếng dành cho người Kālāma là đủ: “Này người Kālāma, các con chớ có tin điều gì chỉ vì được nghe điều đó nhiều lần; chớ có tin chỉ vì đó là truyền thống; chớ có tin bởi vì đó là lời đồn; chớ có tin bởi vì điều đó đúng với sách vở và kinh điển truyền tụng; chớ có tin bởi vì nó nghe có vẻ hợp lý; chớ có tin bởi vì điều đó phù hợp với một hệ thống triết lý, tư tưởng; chớ có tin bởi vì lý luận logic và suy diễn; chớ có tin bởi vì điều đó phù hợp với quan điểm của mình; chớ có tin bởi vì người nói điều đó có vẻ là người đáng tin; chớ có tin bởi vì người đó là thầy của mình” (Tăng Chi Bộ Kinh, 3:65).

Hành động quy y hàm ý một hiểu biết để trả lời ba câu hỏi sau: Liệu thế giới này của chúng ta có thực sự là một nơi chốn của quá nhiều nguy hiểm và đau khổ đến mức phải cần đến một nơi nương tựa không? Liệu rằng một nơi nương tựa như vậy có thực sự tồn tại hay không? Và vậy thì bản chất của nó là gì?

Có nhiều người không thấy cần phải tìm một nơi nương tựa cho mình. Do bởi quá hài lòng với bản thân mình cũng như với những hạnh phúc tầm thường, ngắn ngủi của cuộc đời, họ hoàn toàn tin rằng “mọi thứ trên cuộc đời này đều tốt đẹp”. Họ không muốn, hoặc là không thể, nhìn xa hơn ra khỏi những đường chân trời hạn hẹp của mình. Đối với họ, Đức Phật hoặc bất kỳ một bậc thầy tôn giáo vĩ đại nào khác vẫn chưa xuất hiện. Tuy nhiên, phần lớn nhân loại, thông qua những trải nghiệm cay đắng của chính mình, đều biết rất rõ bộ mặt khắc nghiệt và tàn khốc của thế giới này, vốn chỉ tạm thời được che giấu bởi một chiếc mặt nạ thân thiện. Lại có những người, với một sự hay biết đầy đủ về bản chất tồn tại thực sự của đồng loại, các vị ấy bổ sung thêm vào trải nghiệm cá nhân với các quan sát có được từ những cuộc đời khác ở xung quanh mình. Và vẫn có một số ít người còn có thể suy ngẫm một cách trí tuệ về cả hai: Kinh nghiệm của bản thân mình lẫn những quan sát có được. Đặc biệt đối với số ít những người như vậy, những vị “có ít bụi trong mắt”, cuộc sống sẽ hiện ra như là một đại dương bao la của đau khổ, sâu thẳm không thể nào chạm tới, mà ở trong đó các chúng sinh chỉ bơi được một lúc trên bề mặt mà thôi, hoặc là họ luồn lách trong lớp vỏ mỏng manh mà họ rất tự hào.

Thật sự là có những khoảnh khắc yên bình khi ta cảm thấy dễ chịu được thả trôi trên mặt biển êm ả, hoặc chỉ là để chứng tỏ cũng như tận hưởng sức mạnh của cơ thể bằng một cuộc bơi dài. Tuy nhiên, những ai có tầm nhìn và một cái tâm rộng mở sẽ không bị đánh lừa bởi những khoảnh khắc nghỉ ngơi ngắn ngủi này. Họ biết về sự dữ dội áp đảo của đại dương đầy bão tố, về những dòng chảy và xoáy nước nguy hiểm, về những con quỷ và quái vật ở dưới đáy biển sâu. Họ biết rằng, ngay cả ở trong những điều kiện thuận lợi nhất, sức mạnh yếu ớt của con người cũng sẽ sớm bị kiệt quệ bởi tác động từ các sức mạnh siêu phàm trong cuộc sống. Ở trong dòng chảy biến đổi một cách vô hạn và liên tục của nó, những thăng trầm trong cuộc sống không cho phép duy trì vĩnh viễn một điều gì cả, ngay cả một mức độ thấp nhất của hạnh phúc hay một chuẩn mực thấp nhất của giá trị tinh thần. Chẳng có gì để đạt được khi cứ mãi bơi qua đại dương mở rộng vô tận của cuộc sống này cả, ở trong bất cứ một vùng biển nào của nó. Sẽ chỉ có cùng một sự lặp lại vô nghĩa của những thăng trầm, của thủy triều lên xuống mà thôi. Đối mặt với những hiểm nguy luôn hiện hữu trong cuộc sống và sự đơn điệu vốn có của nó, sẽ chỉ có một tiếng kêu cứu tìm về một nơi nương tựa được thốt lên từ một trái tim và một cái tâm thực sự thấu hiểu hoàn cảnh của mình ở trong thế giới này. Một nơi nương tựa là nhu cầu to lớn duy nhất của mọi sự sống, và việc “tìm về nơi đó” (quy y) là một hành động sáng suốt duy nhất mà hoàn cảnh đó đòi hỏi.

Tuy nhiên, với một sự cần thiết như vậy, liệu có thực sự tồn tại một nơi nương tựa giải thoát chúng ta khỏi những bất hạnh của thế gian này hay không? Người Phật tử quả quyết về nơi nương tựa đó và chứng minh rằng sự quả quyết như vậy chẳng phải là một điều gì đó bi quan. Nơi nương tựa mà họ hướng đến chính là ba ngôi: Đức Phật, Giáo lý của Ngài và Tăng đoàn các vị thánh đệ tử, được gọi là “Tam bảo”, là điều quý giá và thanh tịnh nhất. Nhưng bởi vì đó là nơi nương tựa cuối cùng chứ không chỉ là nơi nương tựa tạm thời, nên những ai quy y chỉ có thể tự chứng cho chính mình mà thôi, bằng cách thực sự đi đến nơi nương tựa thông qua sự chứng ngộ nội tâm của chính mình.

Ba ngôi Tam bảo tồn tại một cách khách quan như là một ý niệm hay lý tưởng không liên quan đến một cá nhân riêng biệt nào, miễn là nó được nhận biết và trân quý. Ngay cả trong hình thức như vậy, nó chắc chắn là một nguồn lợi ích bền vững và tích cực cho thế gian. Tuy nhiên, nó sẽ chuyển hóa từ một ý niệm khách quan thành một nơi nương tựa cá nhân chỉ khi nó được thấu rõ ở bên trong tâm cũng như được thể hiện trong cuộc sống cá nhân của một chúng sinh cụ thể. Do đó, không thể chứng minh cho người khác sự hiện hữu của Tam bảo ở trong bản chất đặc trưng của nó như là một nơi nương tựa. Thay vào đó, mỗi một chúng sinh phải tự tìm thấy nơi nương tựa này ở bên trong bản thân mình, bằng những nỗ lực của chính mình. Nơi nương tựa này được tạo nên và phát triển thông qua quá trình đi đến nó.

Nỗ lực, không phóng dật,
Tự điều, khéo chế ngự,
Bậc trí xây hòn đảo,
Nước lụt khó ngập tràn.

Kinh Pháp Cú, phẩm 25

Nơi nương tựa này chỉ tồn tại cho chúng ta khi có một điều gì đó ở bên trong mình đáp ứng lại và tương ứng với nó. Do đó, Lục tổ Thiền tông đã dạy rằng: “Mỗi một chúng ta hãy quy y, nương tựa vào Tam bảo ở bên trong tâm của mình!”

Đối với nơi nương tựa đầu tiên, Phật bảo, chính Đức Phật đã dạy ngay sau khi Ngài giác ngộ rằng:

Giống như ta, họ sẽ là những người chiến thắng
Những người đã đạt đến sự đoạn diệt của nhiễm ô.

Trung Bộ Kinh, 26 (Kinh Thánh Cầu)

Đối với nơi nương tựa thứ hai, Pháp bảo, Đức Phật đã dạy như sau ngay trước khi Ngài nhập diệt:

Vậy, này Ānanda, hãy tự coi chính con là hải đảo (chỗ ẩn náu) của con, chính con là chỗ nương tựa của con. Không nên tìm nơi nương tựa ở bên ngoài. Hãy xem Giáo pháp là hải đảo của con. Giáo pháp là chỗ nương tựa của con. Không nên tìm nơi nương tựa ở bên ngoài.

Trường Bộ Kinh, 16 (Kinh Đại Niết-bàn)

Dưới đây là đoạn chú giải cho một bản kinh khác, nhưng có thể áp dụng cho đoạn kinh vừa được trích dẫn ở trên: 

Pháp được gọi là “ngã” (attā), bởi vì đối với một người trí tuệ, Pháp không khác biệt với chính vị ấy và bởi vì, Pháp liên quan đến sự tồn tại cá nhân của vị ấy.

Phụ chú giải Kinh Đại Niệm Xứ

Đối với nơi nương tựa thứ ba, Tăng bảo, là Tăng đoàn của các vị thánh đệ tử, là tấm gương vĩ đại và đầy cảm hứng cho chúng đệ tử noi theo. Nền tảng thực sự của nơi nương tựa này chính là khả năng vốn có ở bên trong tất cả mọi chúng sinh để trở thành một trong những bậc thánh thanh tịnh, tạo nên Tăng đoàn của nơi nương tựa.

Bây giờ, chúng ta chuyển sang ý nghĩa thứ ba được hàm ý trong sự hiểu biết cho hành động quy y, và cũng là bản chất tối thượng của Tam quy.

Chúng ta đã thấy rằng sự quy y, nương tựa chỉ có thể đạt được thông qua những gốc rễ sống động, thông qua những nền tảng thực sự có mặt ở ngay trong một cái tâm bình thường. Giống như hoa sen, nó mọc lên từ trong vũng nước của sự tồn tại thế tục; nó phát triển ở đó và hấp thụ dinh dưỡng từ đó. Tuy nhiên, những gì vẫn còn chìm đắm trong đại dương của thế tục và đau khổ không thể là nơi quy y tối thượng, nơi an toàn và hạnh phúc được. Nơi nương tựa đó không những phải xoa dịu, mà ở tận cùng, nó còn phải vượt qua được cái thế giới này của nguy hiểm, sợ hãi và bệnh tật này, giống như hoa sen vươn lên khỏi mặt nước và không bị vấy bẩn bởi nước. Như vậy, sự quy y hoàn hảo như được ngụ ý trong nghi thức truyền thống này là nói về bản chất siêu thế — lokuttara, vượt khỏi thế gian này.

Do đó, nơi nương tựa đầu tiên (Phật bảo) không phải là Sa-môn Gotama, mà là Đức Phật như là hiện thân của sự Giác ngộ siêu thế, vượt thế gian. Trong Kinh Tư Sát (Vīmaṃsaka Sutta), vị thánh đệ tử được mô tả như sau: “Vị ấy tin vào sự Giác ngộ của Đức Thế Tôn” (Trung Bộ Kinh, 47).

Pháp bảo, nơi nương tựa thứ hai không phải là một hình ảnh mờ nhạt, rời rạc, hay thậm chí là méo mó của Giáo lý, như được phản chiếu ở trong cái tâm của một con người thế tục, chưa được giải thoát. Mà đó là con đường siêu thế với đích đến của nó là Niết-bàn. Các nhà chú giải đã nhấn mạnh bản chất siêu thế của nơi nương tựa thứ hai với phát biểu rằng: Pháp, ở trong vai trò là một đối tượng của việc học hỏi, là nơi nương tựa chỉ khi nó là sự hình thành của một hiểu biết viên mãn đạt được trên con đường giải thoát.

Tăng bảo, nơi nương tựa thứ ba không phải là cộng đồng bao gồm tất cả các vị tu sĩ Phật giáo, với tất cả những nhược điểm của từng thành viên cộng với các khiếm khuyết vốn có ở trong bất kỳ một tổ chức nào của con người. Mà đúng hơn thì đó là Tăng đoàn bao gồm những vị Thánh đệ tử, được hợp nhất lại bởi sợi dây vô hình của sự chứng đắc bốn tầng thánh đạo giải thoát. Hay nói một cách khác, Tăng bảo cũng mang bản chất siêu thế của một sự bảo đảm rằng, có thể đạt đến những đỉnh cao siêu việt của một tâm trí thánh thiện và thanh tịnh.

Nhờ vào ba sự hiểu biết này về nhu cầu, sự tồn tại cũng như bản chất của nơi nương tựa mà việc quy y trở thành một hành động có ý thức của sự hiểu biết.

Tri kiến và sự hiểu biết này tạo thành một nền tảng vững chắc cho khía cạnh thứ ba, khía cạnh về mặt cảm xúc của việc quy y, bao gồm các yếu tố: Đức tin, sự cung kính và tình yêu thương. Hiểu biết về sự tồn tại của một nơi nương tựa tạo nên nền tảng cho một đức tin vững chắc và chính đáng, nền tảng cho một sự tĩnh lặng của sự đảm bảo ở bên trong nội tâm cùng với sức mạnh của đức tin. Hiểu biết về nhu cầu quy y gieo trồng một lòng cung kính không lay chuyển đối với nơi nương tựa. Và hiểu biết về bản chất siêu thế của nơi nương tựa lấp đầy trái tim chúng ta với tình yêu thương hướng đến những gì cao cả nhất có thể hình dung được. Lòng tin là sự vững chãi ở trong đức tin; lòng sùng kính là sự kiên trì bền bỉ trong những phụng sự và nỗ lực kiên định; và tình yêu thương sẽ bổ sung thêm vào các yếu tố sau đây: Sự nhiệt thành, ấm áp và niềm vui. Theo ngữ cảnh của ba yếu tố này, quy y còn là một hành động có ý thức của một đức tin mang tính trí tuệ.

Bây giờ chúng ta có thể định nghĩa rằng, quy y là một hành động có ý thức của ý chí hướng tới giải thoát, dựa trên nền tảng của hiểu biết và được truyền cảm hứng bởi đức tin; hay nói một cách ngắn gọn: Quy y là một hành động có ý thức của sự quyết tâm, của hiểu biết và lòng kính tín.

Ba yếu tố này của việc quy y có những sự tương ứng lần lượt là ý chí, lý trí và cảm xúc trong tâm trí của con người. Do đó, để phát triển tính cách của mình một cách hài hòa, chúng ta cần phải rèn luyện cả ba.

Ý chí, sự hiểu biết và đức tin hỗ trợ lẫn nhau trong nhiệm vụ chung của chúng. Ý chí, sau khi được chuyển hóa thành các hành động có mục đích, tháo gỡ đức tin ra khỏi sự cằn cỗi và nguy hiểm của đam mê lạc thú mang tính cảm xúc; nó ngăn sự hiểu biết trí óc không chỉ dừng lại ở các đánh giá thuần tuý về mặt lý thuyết. Thay vào đó, ý chí khai thác năng lượng của cả cảm xúc lẫn trí óc để có được các áp dụng vào thực tế. Hiểu biết sẽ mang đến định hướng và phương pháp cho ý chí; nó kiểm soát sự hồ hởi của đức tin cũng như mang lại cho nó một sự mãn nguyện đích thực. Đức tin giữ cho ý chí không bị suy yếu, là yếu tố tiếp thêm sức mạnh và mục đích cho các hiểu biết của trí óc.

Sự hiện diện của cả ba yếu tố này là đặc điểm nổi bật cho một đức tin Phật giáo đích thực. Trong quan niệm về đức tin của các tôn giáo khác, yếu tố cảm xúc có xu hướng được nhấn mạnh quá mức, làm mất đi vai trò của ý chí và sự hiểu biết. Đi ngược lại với sự nhấn mạnh quá mức vào một đức tin mang tính cảm xúc, ngay từ lúc mới bắt đầu với việc tu tập tâm linh, Phật pháp hướng tới một sự toàn vẹn và đầy đủ, hướng tới một sự phát triển hài hòa của các căn tính. Như vậy, theo ý nghĩa đích thực của quy y thì nó chỉ được hoàn thành nếu như có sự kết nối của hành động này với ít nhất một mức độ tối thiểu của ý chí có mục đích và một sự hiểu biết đúng đắn. Chỉ khi đó thì đức tin mới có chất lượng của một “hạt giống” Phật giáo, một hạt giống tạo nên các sự phát triển xa hơn nữa. Yếu tố của ý chí trong hạt giống đức tin đó sẽ phát triển cho đến khi chín muồi trở thành một mong muốn không thể kìm nén được hướng đến giải thoát (Tuệ muốn giải thoát — muñcitukamyatā-ñāṇa), là một trong mười sáu tầng tuệ minh sát (vipassanā). Yếu tố hiểu biết ban đầu về một đức tin đích thực sẽ phát triển trở thành một trí tuệ xuyên thấu, mà cuối cùng sẽ chuyển hoá sự đảm bảo của đức tin thành một sự tin cậy chắc chắn ở bên trong nội tâm, do bởi kinh nghiệm trực tiếp của chính mình.

Việc quy y bằng cách đọc tụng câu chữ mà không quán niệm về ý nghĩa của chúng là một sự hạ thấp giá trị của pháp hành cổ xưa đáng kính này. Nó tước đi ý nghĩa và hiệu quả thực sự của nó. “Quy y” nên là thể hiện cho một sự thôi thúc chân thành ở bên trong, mà tương tự như trong cuộc sống, nếu bị thúc đẩy bởi nhận thức về các mối nguy hiểm to lớn, một người sẽ ngay lập tức tìm kiếm cho mình một nơi trú ẩn an toàn.

Khi quy y, chúng ta nên luôn ghi nhớ những hàm ý của hành động này, như được nêu ra ở trên. Đồng thời, đây cũng là một cách huấn luyện hữu ích cho chánh niệm. Chúng ta nên luôn tự hỏi mình rằng, làm thế nào để hành động quy y ở hiện tại có thể được chuyển thành ý chí và sự hiểu biết. Nhìn thấy ngôi nhà cuộc đời của mình đang cháy, chúng ta không thể chỉ lễ bái sự an toàn và tự do đang vẫy gọi ở ngoài kia, mà lại không thực sự hành động để hướng đến nó. Bước đầu tiên trên con đường hướng đến sự an toàn và tự do đó là quy y một cách đúng đắn, như là một hành động có ý thức của sự quyết tâm, hiểu biết và lòng nhiệt thành.

Các bản chú giải có lưu giữ một tài liệu quý giá về pháp hành Phật giáo cổ xưa này, trong đó cho thấy cách thức chu đáo và sáng suốt mà các Phật tử tín tâm đã thực hiện nghi thức quy y Tam bảo từ thuở xa xưa. Tài liệu đề cập đến bốn cách thức quy y khác nhau, trong đó, mỗi một cách thức được thể hiện bằng lời thệ nguyện cụ thể dành riêng của nó, và mỗi một cách thức lại đòi hỏi một mức độ cam kết khác nhau. Sắp xếp theo thứ tự tăng dần, bốn cách thức này bao gồm: Cung kính đảnh lễ, tiếp đến là chấp nhận bản thân mình là một người đệ tử của Tam bảo, nhận Tam bảo làm lý tưởng dẫn đường, và đỉnh điểm là quy phục, từ bỏ bản ngã một cách hoàn toàn, trọn vẹn. Tất cả các lời nguyện đều bắt đầu bằng tuyên bố: “Kể từ hôm nay trở đi…”, đánh dấu thời điểm đọc lên lời thệ nguyện đầu tiên, mở ra một thời kỳ mới trong cuộc đời của người Phật tử tín tâm và nhấn mạnh rằng, hành động này là một sự hiến dâng được xác định rõ ràng và mang tính cá nhân, khác với một nghi lễ không mang tính cá nhân. Ba cách thức quy y thấp hơn được kết thúc với câu: “Mong các Ngài hãy biết đến con!” — như là một lời kêu gọi làm chứng cho những lời xướng lên này, mang lại cho chúng một sự nhấn mạnh cũng như sự trang nghiêm của một lời thệ nguyện. Cả phần đầu và phần cuối của các cách thức quy y này đều thể hiện lời phát nguyện đầu tiên được ghi chép trong kinh điển: “Con xin thành kính quy y Đức Phật Gotama, Giáo Pháp và Tăng Đoàn! Cầu mong các Ngài nhận con làm đệ tử! Kể từ hôm nay trở đi, cho đến trọn đời, con xin quy y Tam bảo!”

Với các cách thức quy y này, rõ ràng là các Phật tử tín tâm thời xưa, những người đã đặt ra và sử dụng chúng, rất nhạy cảm với ý nghĩa sâu sắc của việc quy y. Họ nhận thức được hành động tưởng chừng đơn giản này là một bước ngoặt quan trọng, mang tính quyết định cho cuộc đời của mình, mang theo cùng với nó những trách nhiệm thiêng liêng. Nét đặc thù của bốn cách thức quy y này đòi hỏi một sự lựa chọn rõ ràng của từng cá nhân, mà nhờ đó chúng bảo vệ được nghi thức quy y khỏi bị xuống cấp trở thành một thói quen thường ngày, cũng như cho phép nó thích ứng với cường độ và sự nhiệt thành ngày càng tăng của từng cá nhân. Cấu trúc của sự phân cấp này cho thấy người xưa đã nhận thức được rằng, việc quy y chỉ thực sự được hoàn thành với sự buông bỏ hoàn toàn cái tôi này dưới chân Tam bảo, không còn lại một chút e dè nào nữa cả. Ở trong những cách thức quy y thấp hơn, vẫn còn một phần nào đó của cái tôi giả định này được giữ lại; đó là hành động quy y với một mức độ e dè nhất định. Tuy nhiên, những cách thức quy y thấp hơn này là những bước đi rõ ràng nhằm hướng tới cách thức quy y cao nhất, và chúng cần được gieo trồng một cách có ý thức. Tương tự như ở trong bất kỳ một sự phát triển hài hoà nào của tâm, ở đây, một cấp độ phát triển cao hơn cũng sẽ không loại trừ các cấp độ thấp hơn, mà thay vào đó là hấp thụ chúng vào phạm vi rộng lớn hơn của nó. Do đó, để có được một bức tranh rõ ràng hơn về bốn cách thức quy y này, chúng ta sẽ bắt đầu từ cấp độ thấp nhất và đi dần lên đến cấp độ cao nhất.

I. Cách thức quy y đầu tiên là cung kính đảnh lễ (paṇipāta – hình thức biểu lộ sự tôn kính), được thể hiện bằng câu nguyện: “Kể từ hôm nay trở đi, con xin chắp tay cung kính đảnh lễ đến Đức Phật, Giáo pháp và Tăng đoàn. Mong các Ngài hãy biết đến con!” Đảnh lễ là một thái độ về mặt tinh thần của sự cung kính, thể hiện thông qua hành động và lời nói, xuất phát từ sự nhận biết và trân trọng một điều gì đó cao cả hơn bản thân mình. Nó phá vỡ lớp vỏ đầu tiên và cũng là cứng rắn nhất của ngã mạn và sự ngu dốt tự mãn, vốn không biết điều gì tốt hơn cái tôi nhỏ bé của chính mình. Khi gặp một điều gì đó cao cả hơn, kể cả động vật lẫn những con người chưa phát triển, dù là ở thời kỳ “nguyên thủy” hay “văn minh”, thường sẽ phản ứng bằng sự ngờ vực, sợ hãi, bỏ chạy, tấn công, oán giận, thù địch hoặc ngược đãi; bởi vì, họ chỉ có thể nhìn thấy điều cao cả hơn đó như là một sự khác biệt, xa lạ, và do đó là đáng ngờ. Tuy nhiên, nếu một người chào đón điều cao cả hơn mình với một sự tôn trọng, ngưỡng mộ, cũng như mong muốn noi theo thì đó là dấu hiệu của một cái tâm đã thực sự phát triển. Do đó, nhận biết và trân trọng một điều gì đó cao cả hơn bản thân mình là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển tâm linh, và sự cung kính đích thực xuất phát từ đó cũng sẽ hình thành nên nền tảng cho việc tu dưỡng giới hạnh.

Bởi vì lý do này, ở trong mối quan hệ của người Phật tử với Đấng tối cao, ba ngôi Tam bảo, lòng cung kính đích thực được đặt lên hàng đầu. Như là một cách thức quy y, cung kính đảnh lễ là sự biểu lộ một cách tự nhiên của lòng tôn kính sâu sắc, cảm nhận được khi hay biết đến sự tồn tại và ý nghĩa của sự quy y, của sự nương tựa vào nơi Tam bảo. Đó là phản ứng mang tính cảm xúc của lòng biết ơn, của sự cung kính và của cả sự hân hoan, khi cảm nhận được đầy đủ tầm quan trọng của một sự thật to lớn rằng, thực có một nơi nương tựa để giải thoát mình khỏi cái thế giới đầy rẫy đau khổ này. Do đó, ở trong các Bản chú giải, cách thức quy y này không được mô tả như là các hành động thờ phụng theo thói quen của những Phật tử tín tâm, mà nó được mô tả như là một sự chuyển hóa vô cùng cảm xúc của một vị Bà-la-môn lớn tuổi, một người đã xúc động sâu sắc, và phủ phục đảnh lễ dưới Đức Thế tôn, ôm lấy và hôn chân của Ngài.

Cung kính đảnh lễ đại diện cho khía cạnh cảm xúc của việc quy y, là một hành động có ý thức của đức tin. Thông qua sự đơn thuần và khiêm nhường của nó, việc đảnh lễ bằng cả thân, khẩu và ý sẽ chuẩn bị cho vị đệ tử về mặt cảm xúc để hoàn toàn buông bỏ. Đây là một bước không thể thiếu, nhưng do nó vẫn còn bị thiếu hụt về mặt hiểu biết và quyết tâm, nên sẽ cần phải bổ sung thêm hai giai đoạn quy y kế tiếp.

II. Trong khi việc cung kính đảnh lễ vẫn còn là một mối quan hệ xa cách, mang tính một phía đối với Tam bảo, nghĩa là vị Phật tử tín tâm vẫn còn ở phía bên ngoài sân của thánh địa, bước tiếp theo — sự chấp nhận là một người đệ tử (sissa bhāv’ ūpagamana) — sẽ dẫn vị ấy bước qua cánh cửa vào bên trong. Vị ấy thệ nguyện rằng: “Kể từ hôm nay trở đi, con nguyện làm người đệ tử của Đức Phật, làm người đệ tử của Giáo pháp, làm người đệ tử của Tăng đoàn. Mong các Ngài hãy biết đến con!” và qua lời thệ nguyện này, vị đệ tử tìm đến nương tựa ở nơi trí tuệ tối thượng, mở lòng mình đón nhận ảnh hưởng tràn ngập của nó.

Sự cung kính và khiêm nhường có được trước đó nhờ vào việc chân thành cung kính đảnh lễ đã mang lại cho vị đệ tử quyền để bước vào nơi thánh địa của trí tuệ. Chỉ khi được tiếp cận với một thái độ cung kính như vậy, thì vị đạo sư, bậc thầy tâm linh của phương Đông, mới có thể truyền đạt kiến thức của mình. Bởi vì, những phẩm chất này là dấu hiệu đầu tiên cho thấy vị đệ tử đã sẵn sàng để tiếp nhận.

Nếu việc quy y được thực hiện dưới vai trò của người vị đệ tử, cuộc sống sẽ trở thành một hành trình liên tục của học hỏi, của sự điều chỉnh tâm mình theo những tiêu chuẩn được đặt ra bởi Đức Phật, Giáo pháp và Tăng đoàn. Phẩm chất của một con người trí tuệ là luôn sẵn lòng và khao khát học hỏi. Quá trình học hỏi sẽ thiết lập một mối quan hệ tương hỗ giữa vị thầy, giáo lý và người học trò, để cho phép một sự tiếp nhận dần dần và từng phần diễn ra. Nhờ đó, người học trò có thể tiếp thu trí tuệ của vị thầy và biến nó trở thành của riêng mình.

Sự chấp nhận bản thân mình là một người đệ tử đại diện cho khía cạnh lý trí của việc quy y, mà ở đây là một hành động có ý thức của hiểu biết. Nó cung cấp những lý do đầy đủ và thỏa đáng cho hành động cung kính đảnh lễ, và bằng cách đó, làm tăng thêm sức mạnh cũng như lòng trung thành của sự cung kính. Nhưng con người chúng ta không phải lúc nào cũng luôn là một con người của tín tâm hoặc là một con người của học hỏi. Nếu chỉ có mỗi đức tin và sự hiểu biết không thôi thì vẫn còn nhiều điều trong cuộc sống này không thể dễ dàng nắm vững được. Nó còn đòi hỏi cả một ý chí mạnh mẽ và sự quyết tâm, cùng với các kỹ năng có được từ những trải nghiệm lâu dài, để có thể thay đổi hướng đi của những hoạt động đa dạng thường ngày trong cuộc sống hướng về nơi chốn của sự nương tựa. Nhiệm vụ dần dần biến nơi nương tựa trở thành trung tâm cuộc sống của vị đệ tử sẽ được thực hiện bằng cách thức quy y thứ ba.

III. Ở cấp độ thứ ba, vị đệ tử nhận Tam bảo làm lý tưởng dẫn đường của mình (tapparāyaṇatā), thệ nguyện rằng: “Kể từ hôm nay trở đi, Đức Phật là lý tưởng dẫn đường của con, cũng như vậy, Giáo pháp là lý tưởng dẫn đường của con và Tăng đoàn là lý tưởng dẫn đường của con. Mong các Ngài hãy biết đến con!” Khi thực hiện cách thức quy y này, vị đệ tử thệ nguyện rằng: Bản thân mình sẽ từng bước đặt mọi hoạt động thiết yếu của cuộc đời mình dưới sự hướng dẫn của những lý tưởng được thể hiện trong Tam bảo. Vị ấy thệ nguyện sẽ dồn hết sức lực vào nhiệm vụ khắc ghi dấu ấn Tam bảo thiêng liêng này vào cuộc sống cá nhân của mình cũng như vào cả môi trường xung quanh, trong chừng mực mà vị ấy có thể vượt qua được các kháng cự gặp phải. Xét về phương diện lý tưởng dẫn đường, là yếu tố quyết định của cuộc sống, Tam bảo đòi hỏi một sự cống hiến trọn vẹn trong phạm vi của các hoạt động ở bên ngoài.

Tuy nhiên, sự hiến dâng mình dưới chân Tam bảo này vẫn chưa phải là hình thức quy y cao nhất. Ở bên trong tâm của vị đệ tử vẫn còn tồn tại một sự khác biệt giữa mục tiêu cao quý và con người đang hành động hướng tới mục tiêu đó. Cái bản ngã hão huyền vẫn được duy trì: Nó vui mừng khi gặt hái thành công và sẽ buồn rầu khi gặp phải thất bại. Xét theo một góc độ vi tế thì thay vì ba ngôi Tam bảo, chính bản thân các hành động hướng tới mục tiêu cao quý lại trở thành nơi nương tựa. Nếu sự đồng nhất giữa cái tôi và các hành động hướng tới mục tiêu chưa được trọn vẹn, bản ngã sẽ ẩn mình ở trong các hành động như cách nó thường làm và né tránh lời kêu gọi xả bỏ một cách trọn vẹn vào nơi quy y đích thực, Tam bảo. Một sự tiến bộ vượt qua bước này chỉ có thể thành tựu nếu sự hiến dâng cho lý tưởng dẫn đường được thực hiện một cách tách rời, xả bỏ, mà không mong cầu bất kỳ một phần thưởng nào.

IV. Thái độ xả bỏ đối với hành động là một trong rất nhiều hoa trái thu hoạch được ở cấp độ quy y cuối cùng: Một sự đầu hàng, xả bỏ hoàn toàn của cái tôi dưới chân Tam bảo (atta-sanniyyātana). Cách thức quy y này của một con người thế tục sẽ không giành chỗ cho bất kỳ một sự dè dặt nào nữa cả. Tuy nhiên, theo một ý nghĩa nhất định thì nó không đòi hỏi bất cứ một điều gì; Bởi vì, nếu sự hiểu biết chân chính đã cho chúng ta biết trước đó rằng, không có gì có thể đạt được ở trong vòng luân hồi của đau khổ (saṃsāra), vốn dĩ là khía cạnh khách quan của bản ngã, thì cũng không có gì có thể bị mất đi với sự buông bỏ bản ngã này, vốn dĩ là khía cạnh chủ quan của vòng luân hồi. Và mặc dù việc buông bỏ bản ngã này vốn dĩ là việc từ bỏ vô minh, nó lại là một sự buông bỏ rất khó khăn, như tất cả chúng ta đều biết. Tuy nhiên, nếu muốn giải thoát khỏi những ràng buộc của vòng luân hồi, thì sự buông bỏ này phải được hoàn thành vào một thời điểm nào đó, và như vậy thì nó luôn có thể được hoàn thành vào ngày hôm nay hoặc là vào ngày mai.

Giải thưởng cao nhất chỉ thắng được bằng một sự đánh cược cao nhất, bằng sự buông bỏ cái tôi ảo tưởng này, điều đã nắm giữ quá nhiều quyền lực đến mức phải cần đến một nỗ lực mạnh mẽ nhất để phá vỡ nó. Khi quy y theo hình thức buông bỏ bản ngã hoàn toàn, theo một cách thức khiêm nhường của chính mình, vị đệ tử sẽ noi theo tấm gương của các Vị thánh, người đã tuyên bố với kẻ thù nội tâm của mình – được nhân cách hóa bằng hình ảnh của Ma vương (Māra) – trong cuộc chiến đấu vĩ đại cuối cùng trước khi giác ngộ như sau:

Ta mang cỏ muñja,
Vững thay, đây đời sống,
Thà ta chết chiến trận,
Tốt hơn, sống thất bại.

Kinh Tập, 440

Cỏ muñja được gắn lên chỏm mũ sắt của những chiến binh Ấn Độ cổ đại thuở xưa, những người bước vào trận chiến với lời thề “chiến đấu hoặc là chết”. Nó cũng nên là biểu tượng của một người chiến binh tâm linh. Nếu còn bất kỳ một sự dè dặt nào, hối tiếc hay miễn cưỡng, thì đó sẽ chỉ là một nỗ lực nửa vời thay vì là một nỗ lực toàn tâm toàn ý, là điều duy nhất có thể mang lại được chiến thắng.

Một khi đã thực hiện nghiêm túc cách thức quy y của sự buông bỏ hoàn toàn cái bản ngã này, một cảm giác nhẹ nhõm, vô tư và không sợ hãi sẽ thấm nhuần vào tâm của vị đệ tử. Một cái tôi đã được buông bỏ sẽ không thể và cũng không cần phải sợ hãi về cuộc đời đã được xả bỏ và giờ đây, những gì còn giữ lại chỉ là niềm tin về một mục đích rõ ràng, được sử dụng để đạt đến sự chứng ngộ cao thượng nhất. Do đó, vào thuở ban đầu của Giáo pháp, khi quyết tâm bước chân vào “lĩnh vực hoạt động tâm linh” và lựa chọn một đề mục thiền để tu tập cho đến khi thành tựu đạo quả A-la-hán, các vị ấy bắt đầu công việc này bằng cách phát nguyện buông bỏ bản ngã hoàn toàn, như được dạy trong Thanh Tịnh Đạo (III, 123-127) như sau:

Đến gần thiện tri thức hành giả cần phải hầu hạ đấng Thế Tôn, đấng Giác ngộ, hay một bậc thầy, và nên xin một đề mục quán tưởng với một tâm ý chân thành, quyết định.

Vị ấy nên hầu hạ đức Thế Tôn, Ðấng Giác ngộ với cách như sau: “Bạch Đức Thế Tôn, con xin xả bỏ thân mạng này của con để hầu hạ Ngài”. Bởi vì nếu không quy phục hết cả thân mạng của mình như thế, thì khi sống ở một nơi xa xôi hẻo lánh, vị ấy không thể kiên cố khi gặp một vật đáng sợ xuất hiện và vị ấy có thể trở lại một trú xứ ở làng mạc, giao thiệp với thế tục, tầm cầu bất đáng và đi đến tàn mạt. Nhưng khi hành giả đã quy phục toàn thể tánh mạng như vậy thì không còn nỗi sợ hãi nào khởi lên trong vị ấy, nếu một đối tượng khủng khiếp xuất hiện. Quả vậy, chỉ có niềm hoan lạc khởi lên nơi hành giả khi nghĩ rằng: “Há ta đã không quy phục toàn thể tánh mạng nơi đức Thế tôn hay sao?”

Khi quy phục tánh mạng cho một bậc thầy, người ấy nên nói: “Bạch Đại đức, con xin quy phục tánh mạng nơi Đại đức”. Bởi vì một người chưa quy phục, thì trơ lì không chịu sửa đổi, khó dạy, không nghe lời khuyên can, đi bất cứ chỗ nào người ấy muốn, mà không hỏi ý vị thầy. Do đó, vị thầy không giúp đỡ người ấy bằng tài thí hoặc pháp thí, không huấn luyện cho vị ấy về thiền đạo. Vì không tìm được hai sự giúp đỡ này, nên người ấy không có chân đứng trong Giáo pháp, và chẳng bao lâu vị ấy sẽ xuống đến độ làm quấy hoặc hoàn tục.

Tất nhiên là đối với cách thức quy y bằng sự buông bỏ hoàn toàn cái tôi này thì vẫn còn xa mới đạt đến sự đoạn tận hoàn toàn tính vị kỷ cũng như ảo tưởng về một cái tôi, nhưng nó lại là một phương tiện mạnh mẽ để đạt được mục đích đó. Nó đánh dấu bước chuyển đổi từ sự quy y mang tính thế gian hay thế tục mà nó vẫn còn thuộc về, sang sự quy y siêu thế mà nó hướng đến.

Cách thức quy y bằng sự buông bỏ hoàn toàn cái tôi được trình bày trong các Bản chú giải với các lời nguyện như sau: “Kể từ hôm nay trở đi, con nguyện quy phục hoàn toàn cái tôi này ở nơi Đức Phật, Giáo pháp và Tăng đoàn. Con nguyện cung kính quy phục tánh mạng này ở nơi Bậc Giác ngộ, con nguyện cung kính quy phục tánh mạng này ở nơi Giáo pháp, con nguyện cung kính quy phục tánh mạng này ở nơi Tăng đoàn. Con nguyện cung kính quy phục tánh mạng của mình ở nơi các Ngài. Cho đến khi cuộc sống này chấm dứt, con nguyện quy y ở nơi Đức Phật. Đức Phật là nơi nương tựa, là nơi trú ẩn, là nơi bảo vệ của con. Cho đến khi cuộc sống này chấm dứt, con nguyện quy y ở nơi Giáo pháp. Giáo pháp là nơi nương tựa, là nơi trú ẩn, là nơi bảo vệ của con. Cho đến khi cuộc sống này chấm dứt, con nguyện quy y ở nơi Tăng đoàn. Tăng đoàn là nơi nương tựa, là nơi trú ẩn, là nơi bảo vệ của con.”

Ngay cả trong hình thái ở bên ngoài của nó, cách thức quy y này khác với ba cách thức trước ở chỗ nó không có lời kêu gọi làm chứng cuối cùng: “Mong các Ngài hãy biết đến con.” Từ điều này, chúng ta có thể kết luận rằng, lời thệ nguyện sâu sắc nhất trong cách thức quy y cuối phải được thực hiện bí mật ở trong tâm mình, là phù hợp với tính thiêng liêng của một sự quyết tâm như vậy. Do đó, sẽ không cần phải có một sự làm chứng, như là một hình thức hỗ trợ về mặt giới hạnh, cho việc giữ gìn lời thệ nguyện nữa; Bởi vì, một yêu cầu như vậy sẽ chỉ chứng tỏ rằng, việc thực hiện cách thức quy y này là chưa phù hợp. Bất kỳ một lời tuyên bố công khai nào cũng sẽ chỉ làm giảm đi chân giá trị tối cao của lời thệ nguyện, và sẽ khiến cho việc tuân giữ trở nên khó khăn hơn, do bởi nó làm cho vị đệ tử trở nên quá tự ti hoặc thậm chí quá kiêu ngạo. Không cần phải nói, việc cố tình phô trương lời thệ nguyện sẽ phá hỏng chính mục đích của nó, bởi vì làm như vậy là khẳng định lại cái bản ngã đang cần phải buông bỏ.

Ở đây, cách thức quy y dài dòng hơn này của sự buông bỏ bản ngã, được mở rộng lên từ những chú thích ngắn gọn trong Thanh Tịnh Đạo, lần đầu tiên được dịch sang ngôn ngữ phương Tây. Bản gốc tiếng Pāli của nó dường như cũng ít được chú ý đến ở trong thời đại của chúng ta. Khi mô tả lại cách thức quy y này ở đây, chúng tôi hy vọng rằng, nó sẽ được đón nhận với một lòng tôn kính xứng đáng với tài liệu quý giá về sự cung kính cổ xưa đã được dành cho nó, thiêng liêng với những nỗ lực và thành tựu của những vị đã thực hiện pháp hành này. Chúng tôi cũng nghiêm túc yêu cầu rằng, cách thức quy y này không được thực hiện một cách hời hợt cho mục đích sùng kính thông thường, và rằng lời thệ nguyện này không nên được thực hiện một cách hấp tấp do bởi một sự nhiệt tâm nhất thời. Lời thệ nguyện trang trọng này chỉ nên được thực hiện sau khi đã thử thách sức mạnh tâm linh và sự kiên trì của một người trong một thời gian dài, thông qua những sự tuân giữ và buông bỏ ở mức độ nhỏ bé hơn. Chúng ta cần cẩn thận không biến những điều cao quý nhất của tâm linh trở nên rẻ rúng và tầm thường, bằng việc tiếp cận chúng một cách quá nhanh chóng, bằng việc nói về chúng một cách quá liến thoắng, hoặc là bằng cách nắm lấy chúng và rồi lại buông tay khi sự hứng thú phai nhạt hoặc khi những “ngón tay yếu ớt” của chúng ta mỏi mệt. Như vậy, nếu không chắc chắn về sức mạnh tâm linh của mình, chúng ta không nên tự mình gánh lấy những đòi hỏi khắc nghiệt của việc buông bỏ cái tôi này, mà thay vào đó, hãy nương tựa vào những cách thức quy y thấp hơn. Bởi vì, các cách thức quy y đó cũng sẽ chứng tỏ là những trợ thủ đắc lực để đạt đến những thành tựu tâm linh cao cả.

Khi vận dụng một cách thông minh bốn cách thức quy y cổ xưa này, chúng ta sẽ bảo tồn được pháp hành tu tập Phật giáo phổ biến nhất, quy y Tam bảo, để nó không trở nên cũ kỹ và vô hiệu. Chúng ta có thể biến nó trở thành một dòng chảy mang lại sự sống từ lòng cung kính, mà một ngày nào đó, nó sẽ đưa chúng ta đến với hải đảo cuối cùng của bình yên, đến Niết-bàn, nơi mà người quy y và nơi quy y được hoà vào làm một.

Phần trước | Mục lục | Phần kế

Viet Hung | A Happiness pursuer | Author of The Happiness JournalTản mạn về Hạnh phúc and NGẪM CAFÉ
Sách tôi dịch: Tầm nhìn của Pháp, Trái tim thiền Phật giáo, Thiền cho người mới bắt đầu, Nổi loạn và tự doBài chú giải Kinh Mangala SuttaSức mạnh của sự hoài nghi và thiền chánh niệm (Vipassana)Những nguyên lý để sống hạnh phúcChúng ta đang sống vì điều gì?Sự cho đi và Tình thương yêu“Lấy tâm mình làm bạn của chính mình”, Cảm xúc, Thiền với sự hình dung, Căng thẳng, Bản chất cao thượng, Hãy nương tựa vào chính mình, Khuôn mặt vĩ đại trên núi đá, Năm chướng ngại phát triển tâm linh và cách chinh phục
Get your source of inspiration and motivation toward reaching happiness here: https://www.viethungnguyen.com

3 thoughts on “[TNCP] Tam quy Phật giáo

Gửi phản hồi