[TNCP] Bốn loại thức ăn cho sự sống

Phần trước | Mục lục | Phần kế

Nghe trên Youtube

Nghe trên Soundcloud

Nghe trên Spotify

Trong một pháp này, này hỡi các Tỳ-khưu, Tỳ-khưu chơn chánh nhàm chán, chơn chánh ly tham, chơn chánh giải thoát, chơn chánh thấy được sự cứu cánh, sau khi chơn chánh thắng tri ý nghĩa ngay trong hiện tại, là người chấm dứt khổ đau. Thế nào là trong một pháp?

Tất cả chúng sanh đều tồn tại nhờ đồ ăn.

Trong một pháp này, này hỡi các Tỳ-khưu, Tỳ-khưu chơn chánh nhàm chán, chơn chánh ly tham, chơn chánh giải thoát, chơn chánh thấy được sự cứu cánh, sau khi chơn chánh thắng tri ý nghĩa ngay trong hiện tại, là người chấm dứt khổ đau.

Tăng Chi Bộ Kinh, 10:27

Bốn loại thức ăn cho sự sống

Tất cả chúng sanh đều tồn tại nhờ đồ ăn” (sabbe sattā āhāraṭṭhitikā) — Đức Phật tuyên bố rằng, đây là sự thật duy nhất về cuộc sống đáng để ghi nhớ, suy ngẫm và hiểu ra, ở trên hết thảy tất cả mọi thứ. Nếu có được một sự hiểu biết đủ rộng và đủ sâu về lời dạy này của Đức Phật, nó sẽ tiết lộ một chân lý dẫn đến gốc rễ của mọi sự tồn tại cũng như dẫn đến việc nhổ bỏ được những gốc rễ đó ở tận gốc. Ở đây, như được đề cập ở trong các bản kinh văn cổ xưa, Đức Phật cũng chứng tỏ được rằng, Ngài là người “đã nhìn thấu mọi thứ đến tận gốc rễ” (Kinh Tập, phẩm 1043).

Trong tiếng Pāli cũng như tiếng Anh, từ “đồ ăn” (āhāra, dinh dưỡng, thức ăn, vật thực, thực phẩm, vật nuôi dưỡng) được dùng trong diễn giải thông thường để nói đến thức ăn vật chất. Tuy nhiên, trong Phật pháp, dinh dưỡng được hiểu theo một nghĩa rộng hơn, áp dụng cho tất cả những hỗ trợ chính yếu cho sự sống — cả về tâm lẫn thân. Đức Phật diễn đạt sự thật này với tuyên bố rằng, có bốn loại dinh dưỡng bao gồm: Thức ăn có thể ăn được, các ấn tượng giác quan, ý niệm và nhận thức — được gọi là dinh dưỡng theo ý nghĩa rằng, chúng nuôi dưỡng, hỗ trợ và duy trì sự sống liên tục của một chúng sinh.

Mặc dù có sự khác biệt ở trong phương thức cụ thể, các quy luật cơ bản vận hành tiến trình dinh dưỡng ở dưới mọi hình thức thì lại đều giống nhau, dù là ở trên thân hay ở trong tâm, như được thể hiện một cách rõ ràng từ một số yếu tố chung ở trong mọi hình thức của dinh dưỡng. Sự kiện đầu tiên là cơn đói, chính nó đứng ở đằng sau toàn bộ tiến trình dinh dưỡng, vung roi một cách không ngừng nghỉ. Cơ thể của chúng ta, từ khi sinh ra cho đến khi chết đi, không ngừng thèm khát thức ăn vật chất; còn tâm thì lại khao khát loại dinh dưỡng của riêng nó, mãi thèm khát những ấn tượng giác quan mới mẻ liên tục đi cùng với một vũ trụ không ngừng mở rộng của các ý tưởng, mong muốn. Do đó, tham ái (taṇhā) là điều kiện chính yếu của bất kỳ một “sự hấp thụ” hay “sự tiếp nhận” (upādāna – dính mắc) nào, tức là điều kiện của dinh dưỡng theo một nghĩa rộng nhất của nó. Đây là yếu tố chung đầu tiên của mọi loại dinh dưỡng, cho dù là ở trên thân hay ở trong tâm.

Yếu tố chung thứ hai là quá trình đồng hóa thức ăn. Trong quá trình ăn uống và tiêu hóa, những gì được hấp thụ vào từ bên ngoài sẽ được đồng hoá để trở thành những thành phần nội tại ở bên trong; những vật chất được tiếp thu vào từ bên ngoài sẽ trở thành “của mình” và được đồng hoá trở thành một phần trong “cái tôi” của mình. Câu nói phổ biến “Con người là những gì anh ta ăn vào” áp dụng đúng cho cả dinh dưỡng về mặt tinh thần và dinh dưỡng về mặt thể chất. Tương tự như với thân, tâm của chúng ta cũng được nuôi dưỡng bằng những “nguyên liệu” ở “bên ngoài”: Bằng những ấn tượng giác quan cũng như các trải nghiệm đa dạng; bằng nội dung của kho kiến ​​thức mà loài người chúng ta tích lũy được; và bằng những gì được lắng đọng lại từ tất cả các nguồn này. Khi trở thành đối tượng của tâm, ký ức của chúng ta cũng chỉ là “nguyên liệu” ở “bên ngoài” đối với khoảnh khắc của suy nghĩ ở hiện tại, giống hệt như những ý tưởng đọc được từ một cuốn sách mà thôi. Những gì không thể được hệ thống hấp thụ sẽ bị loại bỏ.

Như vậy, ở trong tâm cũng như ở trên thân, luôn có một quá trình liên tục của sự nắm giữ và từ chối, đồng hóa và phân hủy, đồng nhất với bản thân mình và đẩy đuổi ra khỏi bản thân mình. Nếu xem xét kỹ quá trình dinh dưỡng này, cả ở trên thân lẫn ở trong tâm mình, chúng ta sẽ nhận thấy rằng không chỉ người ăn tiêu thụ thức ăn, mà trong quá trình đồng hóa, thức ăn cũng nuốt chửng luôn cả người ăn. Do đó, giữa người ăn và thức ăn có một tiến trình hấp thụ lẫn nhau. Chúng ta biết con người có thể thay đổi đến nhường nào, tốt hơn hoặc xấu hơn, do bởi những ý tưởng mà họ đã hấp thụ mà cuối cùng thì chính những ý tưởng đó lại hấp thụ và tiêu thụ lại chính họ.

Những quy luật chi phối quá trình dinh dưỡng cho thân và tâm như trên là đủ để thuyết phục một nhà quan sát cẩn trọng rằng, khái niệm về một bản ngã hay bản chất trường tồn là không thực tế đến nhường nào. Quá trình dinh dưỡng như được giải thích ở trên chứng minh cho học thuyết Anattā, giáo lý vô ngã mang tính cách mạng sâu sắc của Đức Phật.

Cây bút Phật giáo người Đức, Paul Dahlke, đã phát biểu rằng: “Cuộc sống cá nhân không phải là bản sắc của một ‘cái tôi’ siêu hình (với một tinh thần và chủ thể thuần túy theo như lý thuyết linh hồn của các tôn giáo), cũng không phải là một quá trình vật lý đơn thuần (với một cơ thể và đối tượng thuần túy theo như chủ nghĩa khoa học duy vật), mà nó là một quá trình dinh dưỡng và do đó, nó không phải là thứ gì đó tự nó ở bên trong mình, cũng không phải là thứ gì đó do người khác tạo nên, mà là thứ tự duy trì chính nó: Và tất cả những cái gọi là khả năng cao cấp hơn của các suy nghĩ và cảm nhận này đều là những hình thức khác nhau của việc ăn uống để duy trì bản thân”.

Tuy nhiên, ngoài việc chứng minh cho học thuyết Vô ngã, quá trình dinh dưỡng cũng chính là một “vị thầy” đầy thuyết phục về hai đặc tính phổ quát khác của cuộc sống: Vô thường và khổ. Vô thường (anicca) nằm ở tận gốc rễ của quá trình dinh dưỡng. Nó đòi hỏi phải liên tục bổ sung lại các thức ăn đã tiêu hoá. Chừng nào chúng ta còn sống thì lỗ thủng không đáy này phải được làm đầy hết lần này đến lần khác. Cơn đói ở trong tâm cũng giống y hệt như vậy. Nó thèm khát sự thay đổi và sự đa dạng trong “chế độ ăn uống” của chính nó. Sự lặp đi lặp lại đơn điệu này của quá trình dinh dưỡng được duy trì do bởi niềm thôi thúc bảo vệ sự sống. Điều này là đủ để phơi bày ra nỗi đau khổ của cuộc sống (dukkha), phơi bày ra sự mệt mỏi trong một vòng tuần hoàn tẻ nhạt của việc ăn uống và rồi lại đói bụng. Do đó, một nhà hiền triết người Do Thái thời trung cổ đã phát biểu rằng: “Tôi chán ngấy với việc lên cơn đói bụng hết lần này đến lần khác, và tôi lại đói bụng sau khi đã no nê, chán chê.”

Như vậy, đau khổ vốn có sẳn ở ngay trong chính chức năng ăn uống. Tuy nhiên, nó lại thường bị che giấu khỏi chúng ta do bởi thói quen của mình đối với chức năng cơ bản nhất này trong cuộc sống thường nhật. Chúng ta cần phải nghiền ngẫm để vạch trần sự lừa dối này cũng như để phát giác ra những đau khổ cụ thể liên quan đến việc tìm và kiếm thức ăn. Rồi khi đó, chúng ta mới có thể hiểu được nỗi đau không nói nên lời trong thế giới động vật — nơi mà “luật sống là ăn thịt lẫn nhau”, mới có thể hiểu được nỗi kinh hoàng khi động vật bị giết thịt để làm thức ăn, mới có thể hiểu được sự tàn khốc của những cuộc chiến tranh giành đất đai cũng như các cuộc chiến tranh giành giật “thị trường thế giới” của con người, mới có thể hiểu được sự đau đớn khốn cùng trong đói khát của người nghèo cũng như tiếng kêu khóc của những đứa trẻ đang chết đói. Và mặc dù các tài nguyên, nguồn lực để nuôi sống nhân loại đã tăng lên đáng kể trong thời đại của chúng ta ngày nay, con người vẫn chưa thể kiểm soát được nạn đói, ngay cả khi nó nằm ở trong khả năng của mình. Hơn nữa, mọi tiến bộ trong lĩnh vực sản xuất lương thực ngày nay đều có nguy cơ trở nên bé nhỏ trước sự gia tăng nhanh chóng của dân số thế giới. Vấn đề này hiện đang lù lù nổi lên ngày càng to lớn đối với nhân loại trong thời điểm hiện tại và nó có thể trở nên kinh khủng và tuyệt vọng, nếu sự chênh lệch giữa lượng lương thực sẵn có và mức dân số ngày càng tăng đạt đến điểm nguy cấp. Nếu điều đó xảy ra, chúng ta không biết được hậu quả sẽ khốc liệt đến nhường nào, trừ phi toàn thể nhân loại cùng đoàn kết chung tay để giải quyết vấn đề bằng các chương trình hành động phối hợp cũng như các biện pháp hòa bình.

Do đó, đối với tương lai của nhân loại, những gì mà các bậc đạo sư cổ xưa của Pháp đã dạy vẫn giữ nguyên tính đúng đắn của nó, rằng: Việc tìm kiếm thức ăn mãi là nguồn gốc cho khổ đau. Điều này có thể khơi dậy một cảm giác cấp bách trong chúng ta khi xem xét, dưới góc độ “thức ăn”, về bản chất của chính mình, về những nhu cầu không ngừng nghỉ của mình cũng như về hoàn cảnh của chính mình trong một thế giới mà nhu cầu ăn uống là thứ mãi luôn đồng hành với chúng ta trong cuộc sống này.

Quán niệm về khổ đau liên quan đến thức ăn sẽ dẫn đến những sự thật tương ứng trong bốn sự thật cao thượng — Tứ Diệu Đế. Bốn loại thức ăn cho cuộc sống tương ứng với sự thật đầu tiên, sự thật về khổ; Cơn thèm khát bốn loại thức ăn này là nguồn gốc của khổ, tương ứng với sự thật thứ hai; Việc chấm dứt cơn thèm khát đó, kết thúc quá trình không ngừng nghỉ đi tìm kiếm và nắm giữ thức ăn vật chất cũng như tinh thần, là sự đoạn diệt của khổ, tương ứng với sự thật thứ ba; và Bát Chánh Đạo, sự thật thứ tư, là con đường dẫn đến sự đoạn diệt của khổ (xem Trung Bộ Kinh, 9).

Quá trình dinh dưỡng ở trên thân cũng như ở trong tâm trình bày bản chất có điều kiện (nhân duyên) của mọi sự tồn tại. Do đó, nó tiết lộ những đặc tính nổi bật của Pháp bao gồm: Ba đặc tính vô thường, khổ và vô ngã, cũng như Tứ Diệu Đế.

Bản kinh quan trọng và có tính khai sáng nhất của Đức Phật về dinh dưỡng là bản kinh Máu thịt của người con trai, như được dịch ra ở trong các trang dưới đây. Nhà chú giải Ācariya Buddhaghosa giải thích lý do mang tính thuyết phục cho bài kinh nghe có vẻ nhẫn tâm này như sau: Vào thời điểm đó, Tăng đoàn nhận được sự hỗ trợ dồi dào với đồ ăn khất thực cũng như các nhu yếu phẩm khác. Lưu ý về điều này, Đức Phật đã tự hỏi rằng: “‘Liệu các Tỳ-khưu có thể ăn đồ ăn khất thực mà vẫn giữ được chánh niệm và tỉnh giác, nắm giữ được bản chất thực sự của thức ăn không nhỉ? Liệu các Tỳ-khưu có xả bỏ, và tự do thoát khỏi ham muốn và tham lam không?’ Và Ngài thấy có một số Tỳ-khưu trẻ, mới xuất gia, ăn đồ ăn khất thực nhưng lại không có suy nghĩ đúng đắn.

Thấy vậy, Ngài nghĩ rằng: “Khi ta thực hành các ba-la-mật (pāramī) trong bốn thời kỳ vô lượng và một trăm ngàn kiếp, ta đã không thực hành bởi vì những nhu yếu phẩm cần thiết, ví như y phục, đồ ăn khất thực,… mà ta thực hành với mục đích đạt được thánh quả cao nhất, thánh quả A-la-hán. Cũng như vậy, những vị Tỳ-khưu này, thọ giới dưới sự chỉ dạy của ta, đã không thọ giới vì những nhu yếu phẩm cần thiết này, mà là vì mục đích đạt đến thánh quả A-la-hán. Tuy nhiên, bây giờ họ đang lấy thứ không thiết yếu làm thứ thiết yếu, lấy điều vô giá trị làm điều giá trị! Ta sẽ đặt trước mặt họ một tấm gương của Pháp để họ tự chủ và thu thúc, rồi khi quán niệm về nó hết lần này đến lần khác, các vị Tỳ-khưu trong tương lai sẽ chỉ sử dụng những gì là thiết yếu về mặt vật chất của họ sau khi đã suy nghĩ đúng đắn.”

Và sau đó, Đức Phật đã thuyết bài kinh Máu thịt của người con trai, dạy về bốn loại “thức ăn của sự sống”. Ngài minh họa mỗi loại thức ăn bằng một ẩn dụ súc tích nhưng mạnh mẽ đến sửng sốt. Việc cẩn thận nghiền ngẫm chúng sẽ mở ra cho chúng ta một trí tuệ thấu suốt sâu sắc về Pháp, được tiết lộ ở ngay trong chức năng buồn tẻ và rõ ràng của quá trình dinh dưỡng cho thân và tâm.

1. Đoàn thực Thực phẩm ăn được (kabaliṅkārāhāra)

Ví dụ đưa ra trong bản kinh: Một cặp vợ chồng, không còn thực phẩm khi đang ở giữa một sa mạc, đã ăn thịt đứa con bé bỏng của mình để họ có thể đi được đến đích.

Kể từ khi xuất hiện trên hành tinh này, con người, giống như cặp vợ chồng ở trong ví dụ trên của Đức Phật, đã băng qua sa mạc của cuộc sống, nơi thức ăn luôn là mối quan tâm cấp bách nhất. Và cũng giống như trong câu chuyện ở trên, việc làm dịu cơn đói của mình thường là một việc đau lòng, nếu không phải là đối với “người ăn” (mà đôi khi đó là những con người khá nhẫn tâm), thì cũng là việc đau lòng đối với con mồi hoặc là đối với một người quan sát nhạy cảm. Thông thường, trong quá trình tìm kiếm thức ăn, con người đã phá hủy luôn cả những gì thường được coi là thân yêu nhất đối với mình, thậm chí có thể là người thân và bạn bè hoặc những lý tưởng thời trai trẻ của mình. Đúng thật là như vậy. Và đó cũng chỉ là một khía cạnh của cuộc sống, vốn không phải mọi chỗ đều là sa mạc. Bởi vì cuộc sống vẫn chứa đựng một số lượng lớn ốc đảo nơi du khách có thể nghỉ ngơi và tận hưởng. Nhưng khi nghỉ ngơi và tận hưởng như vậy, họ lại dễ quên mất rằng, những bãi cát ở xung quanh mình là thứ thường xâm lấn và chôn vùi luôn cả cái ốc đảo nhỏ bé của họ.

Cặp vợ chồng trong câu chuyện ví dụ ở trên của Đức Phật sắp chết đói và đã ăn thịt luôn đứa con yêu dấu của chính mình: Đây là một câu chuyện thực sự khủng khiếp và có vẻ quái dị! Tuy nhiên, theo như các ghi chép trong lịch sử, ở vào thời điểm của nạn đói, chiến tranh hoặc đắm tàu, đã có xảy ra việc ăn thịt người. Do đó, chúng ta cần phải thừa nhận rằng, những gì được kể trong câu chuyện ở trên đôi khi có thể đã thực sự xảy ra. Trong công cuộc tìm kiếm thức ăn không ngừng nghỉ của mình, hoặc là tìm kiếm các thực phẩm tốt hơn cũng như kiểm soát tốt hơn các nguồn thực phẩm, con người thường đã phải giết hại, tiêu diệt một cách tàn nhẫn hoặc bóc lột những sinh vật đồng loại của mình, ngay cả những người gần gũi với mình về mặt huyết thống hoặc chủng tộc! Và liệu rằng, có có hay không một mối quan hệ họ hàng gần gũi giữa tất cả những sinh vật sống? Những từ ngữ trong câu trên không phải là cụm từ mang tính uỷ mị (như chúng vẫn thường được sử dụng), mà nó chỉ ra một sự thật khắc nghiệt và tàn nhẫn. Chẳng lẽ chúng ta lại không thân thuộc với lòng tham vô độ, với những cơn thịnh nộ tàn khốc và với sự ngu ngốc mang tính hủy diệt mà chúng ta gặp phải trong cuộc sống hàng ngày và chính chúng ta lại còn trở thành nạn nhân hoặc trở thành thủ phạm trong cuộc chiến đấu tranh giành thức ăn hoặc quyền lực đó hay sao? Nếu không thân thuộc với chúng, thì liệu chúng ta có thể chạm trán với chúng theo cách này hoặc cách khác hay không? Bị mắc kẹt trong bánh xe luân hồi của cuộc sống trong một thời gian dài vô tận, chúng ta đã từng là tất cả mọi thứ: Con mồi cũng như kẻ ăn thịt, cha mẹ cũng như con cái. Chúng ta nên cân nhắc điều này khi quán niệm về chất dinh dưỡng ở trong thực phẩm ăn được và ví dụ minh hoạ của Đức Phật ở trên.

Nếu muốn ăn và tồn tại, chúng ta phải sát sinh hoặc ngầm chấp nhận rằng người khác sẽ sát sinh thay cho mình. Lưu ý rằng, vế sau không chỉ là để nói đến những vị đồ tể hay người đánh cá. Bởi vì, kể cả đối với những ai ăn chay một cách nghiêm ngặt, vẫn sẽ có chúng sinh bị sát hại. Lưỡi cày của người nông dân sát sinh hàng hàng lớp lớp sâu bọ và côn trùng. Việc bảo vệ rau và ngũ cốc cũng đồng nghĩa với cái chết của vô số “sâu bọ, côn trùng”, mà cũng giống như chúng ta, đó là những chúng sinh đang tìm kiếm thức ăn. Nhu cầu về đất canh tác của một lượng dân số ngày càng tăng lên đã tước đi không gian sống của động vật và điều này đã khiến nhiều giống loài bị tiêu diệt trong suốt chiều dài của lịch sử. Chúng ta đang sống trong một thế giới của sự giết chóc, và chúng ta đang đóng một vai trò của riêng mình ở trong thế giới đó. Chúng ta cần phải đối mặt với sự thật khủng khiếp này và hãy ghi nhớ nó một cách sống động ở trong nhận thức của mình mỗi khi quán niệm về thực phẩm ăn được. Thực hành như vậy sẽ thúc đẩy chúng ta nỗ lực thoát khỏi thế giới giết chóc này bằng cách đoạn diệt lòng tham ái của mình đối với bốn loại thức ăn.

Trong cuộc đời ngắn ngủi của mình, có bao nhiêu là “chuyến tàu” thức ăn đã đi vào và đi ra khỏi cơ thể nhỏ bé của chúng ta? Có bao nhiêu người đã phải lao động trong quá trình sản xuất, chế biến và phân phối thực phẩm để giữ cho “tuyến đường giao thông” chạy thẳng qua ống tiêu hóa của chúng ta không bị gián đoạn? Thật là một bức tranh kỳ cục để hình dung.

Còn có một khía cạnh khác của chức năng “mang lại sự sống” trong việc ăn uống mà chúng ta cần xem xét. Hãy tưởng tượng về một cái hầm ủ tươi thức ăn hoặc cỏ cho gia súc, một kho chứa hoặc một túi thức ăn. Sau khi nó được đổ ra hoặc được lấy hết thức ăn ra, thường thì sẽ vẫn còn sót lại một vài hạt hoặc một vài mẩu thức ăn nhỏ. Tương tự như vậy, ở trong cơ thể của chúng ta cũng sẽ luôn có những mẩu thức ăn nhỏ còn sót lại mà không được tiêu hóa hay đào thải ra ngoài. Chúng bị kẹt lại trong cơ thể và lại còn bị thối rữa đi. Một số nhà sinh lý học cho rằng, chính sự thối rữa của thức ăn còn sót lại này, nếu không có nguyên nhân nào khác thêm vào, cuối cùng sẽ dẫn đến sự lão hóa và cái chết của cơ thể. Nếu điều đó là đúng, thì thức ăn không chỉ mang lại sự sống không thôi, mà nó còn mang đến cả cái chết. Như vậy, chúng ta có hai lựa chọn cho cái chết trong cuộc sống này, chết đói hoặc chết do bị thối rữa: “Thức ăn nuốt chửng người ăn!” Mối liên hệ chặt chẽ giữa thức ăn và cái chết được thể hiện rất sâu sắc trong thần thoại Hy Lạp, mà theo đó Demeter là nữ thần ngô (nghĩa là nữ thần của thực phẩm) và cũng là nữ thần của cái chết. Bachofen, một nhà thám hiểm và cũng là một nhà diễn giải vĩ đại về các câu chuyện thần thoại cổ điển, đã diễn đạt ý nghĩa của nó một cách rất ngắn gọn như sau: “Nữ thần nuôi dưỡng con người như là một con mồi của chính mình.”

Khi quán niệm về các hành động tẻ nhạt của việc ăn uống, chúng ta có thái độ rất khác nhau đối với thực phẩm. Chán ngán với việc ăn uống buồn tẻ hàng ngày, một số người sẽ tìm cách biến nó thành một “nghệ thuật tinh tế” và họ sẽ trở thành những người sành ăn. Đối với họ, Đức Phật dạy rằng: “Mọi thức ăn đều là tồi tàn, ngay cả những thức ăn mang tính thiêng liêng”. Lại có những người khác, với nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của thực phẩm cho một sức khỏe tốt, họ bày ra nhiều ý tưởng khác nhau về “thực phẩm tinh khiết”. Chúng ta có thể thấy điều này qua các quy tắc ăn kiêng của một số tôn giáo và đức tin của các giáo phái cổ đại cũng như hiện đại vào “sự thanh lọc bằng thức ăn” (āhāra-parisuddhi). Những giáo phái như vậy đã tồn tại từ thời Đức Phật. Ngài biết về đức tin của họ và bác bỏ chúng. Có một số người khác, lại cố gắng giải quyết vấn đề cơ thể phụ thuộc vào thức ăn bằng cách giảm chất dinh dưỡng xuống dưới mức bổ dưỡng cũng như bằng cách nhịn ăn trong những khoảng thời gian dài. Đức Phật cũng đã thử qua phương pháp khắc nghiệt và vô ích này của sự tự hành xác và đã từ bỏ nó trước khi đạt ngộ, như Ngài mô tả một cách sống động trong Đại kinh Sư tử hống (Mahāsīhanāda Sutta, Trung Bộ Kinh, 12). Sau khi đạt ngộ, Đức Phật không bao giờ khuyến khích thực hành nhịn ăn, ngoài việc kiêng ăn thức ăn đặc sau buổi trưa như là một giới luật đối với các Tỳ-khưu cũng như đối với cư sĩ trong thời gian thọ tám giới hoặc mười giới. Trong vai trò là vị thầy của con đường trung đạo, những gì Ngài dạy bao gồm: Tiết chế trong việc ăn uống, không dính mắc vào hương vị của thức ăn và quán niệm một cách trí tuệ về thức ăn.

2. Xúc thực — Ấn tượng từ các giác quan (xúc, phassa)

Ví dụ đưa ra trong bản kinh: Một con bò cái bị lở da, cho dù đứng ở đâu đi nữa thì nó cũng không ngừng bị cắn bởi côn trùng và các sinh vật khác sống ở gần bên.

Giống như một con bò bị lở da, chúng ta cũng bất lực trước những kích thích và khó chịu liên tục từ các ấn tượng giác quan, vốn đầy rẫy trên người mình đến từ mọi hướng qua sáu giác quan — mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Từ Pāli “phassa” theo nghĩa đen có nghĩa là “chạm” hoặc “tiếp xúc”, được dịch ở đây là ấn tượng từ các giác quan, hoặc là xúc thực. Tuy nhiên, ý của nó không phải là một tác động về mặt vật lý, mà là sự tiếp xúc về mặt tinh thần với các đối tượng, xảy ra qua sáu giác quan, bao gồm cả tâm. Cùng với sự tác ý (manasikāra), ấn tượng từ các giác quan là phản ứng đầu tiên và đơn giản nhất của tâm đối với sự kích thích do dữ liệu và nghĩ tưởng từ các giác quan tạo ra. Tâm lý học Phật giáo coi nó là một yếu tố cấu thành của mọi trạng thái tâm, từ đơn giản nhất đến phức tạp nhất, xảy ra kể cả trong giấc mơ cũng như trong các trạng thái tiềm thức của ý thức.

Ấn tượng từ giác quan — xúc là một điều kiện duy trì sự sống mang tính cơ bản, là kiểu dạng của một loại thức ăn (xúc thực). Thứ đặc biệt được nuôi dưỡng hoặc điều kiện hóa lên từ xúc chính là cảm nhận, cảm thọ (vedanā). Cảm thọ có mặt ở trên vô số các ấn tượng giác quan liên tục xảy ra và rồi đồng hóa chúng trở thành dễ chịu (lạc thọ), khó chịu (khổ thọ) hoặc trung tính (xả thọ – bất khổ, bất lạc thọ). Mối quan hệ này có vị trí của nó trong (12 mắt xích) duyên khởi: “Do xúc có thọ” (phassa-paccayāvedanā). Tham muốn sẽ phát triển mạnh mẽ trên nền của những cảm thọ không được canh phòng, và chừng nào còn có sự thèm muốn đối với các ấn tượng giác quan (xúc) thì đó sẽ là một nguồn cung cấp vô hạn thức ăn cho cảm thọ tiêu hoá. Xuyên suốt toàn bộ cuộc sống của chúng ta, với một sự thay đổi chóng mặt, các hình dáng, âm thanh, mùi, hương vị, các tác động và ý niệm thuộc về thân liên tục chạm đến chúng ta trong một dòng chảy bất tận. Với một nhận thức sâu sắc về sự tấn công liên tục này mà Đức Phật đã ví von các ấn tượng giác quan (xúc) với hình ảnh một con bò cái bị lột da, và phần da thịt bị phơi ra là mục tiêu của hàng ngàn đàn côn trùng, mang đến những cảm giác đau đớn dữ dội. Theo như lời dạy của Ngài, những ai chưa tự do thoát khỏi dính mắc thì bất kỳ một loại cảm thọ nào cũng có thể gây ra đau khổ và xung đột. Cảm giác đau đớn (khổ thọ) chính nó đã là đau khổ; cảm giác dễ chịu (lạc thọ) mang đến đau khổ thông qua tính chất tạm thời của nó cũng như thông qua bản chất không thỏa mãn và không hài lòng của nó; cảm giác trung lập (xả thọ) thế tục tạo ra đau khổ thông qua sự buồn tẻ và nhàm chán vốn có của nó. Ấn tượng giác quan (xúc) là nguồn thức ăn không ngừng nghỉ cho những thọ này, và do đó, nó trở thành nguyên nhân của ba loại khổ kể trên.

Tālapuṭa, một vị sư vào thời của Đức Phật, trong lúc khao khát được nhìn thấy một cách sâu sắc hơn bản chất thiêu đốt và đau khổ của các ấn tượng giác quan, đã xúc động thốt lên rằng:

Khi nào ta sẽ chuyên
Chú tâm vào an chỉ,
Thấy được với trí tuệ,
Sắc, thanh, hương, vị, xúc,
Các pháp vô thường này,
Như lửa cháy hừng đỏ,
Khi nào ta sẽ vậy?

Trưởng Lão Tăng Kệ, 1100

Mặc dù nhận thức được một cách rõ ràng về vô số những cảm giác đau đớn tác động lên các giác quan của mình, nhưng nhìn chung, chúng ta lại khá sẵn lòng chịu đựng cái giá đó của sự đau đớn để có được những thú vui. Trên thực tế, chúng ta dường như thích thú với bất kỳ một loại cảm giác nào hơn là không có cảm giác nào cả, trừ phi nỗi đau khởi sinh từ chúng đe dọa vượt quá mức chịu đựng của chúng ta. Gốc rễ tâm lý của tình trạng này là cơn đói những trải nghiệm liên tục mới mẻ. Nếu cơn đói đó không được thỏa mãn một cách thường xuyên, nó sẽ khiến chúng ta trống rỗng, đói khát và bất lực. Do đó, chúng ta có nhu cầu về những sự thay đổi, về những điều mới lạ, cũng như khao khát được liên tục “chạm” vào cuộc sống. Nhu cầu chạm vào cuộc sống này trở nên quen thuộc đến mức đối với hầu hết mọi người, độc cư bị sợ hãi như là một sự thiếu thốn không thể nào chịu đựng được.

Xúc thực nuôi dưỡng ý tưởng rằng, “thế gian này là một sự hưởng thụ”; nó nuôi dưỡng sự thèm muốn được tồn tại, được hiện hữu (bhavataṇhā). Sự thèm muốn theo thói quen này chỉ có thể bị phá vỡ nếu chúng ta ngừng đồng hoá mình với dòng cảm giác, nếu chúng ta học cách từ bỏ những phản ứng nhanh nhẹn xảy ra một cách tự động và học cách bước lùi lại để nhập vào vai trò của một người quan sát. Khi đó, cảm thọ được nuôi dưỡng bởi xúc sẽ ngừng biến thành thèm muốn, và tại thời điểm đó, duyên sinh của khổ đau sẽ bị chặt đứt.

3. Tư niệm thực (manosañcetanā)

Ví dụ đưa ra trong bản kinh: Hai người lực sĩ đi đến, nắm chặt hai cánh tay một người, kéo người ấy đến hố than hừng.

Tư niệm (ý nghĩ có chủ ý) ở đây mang nghĩa chính là về nghiệp, tức là hành động tạo ra sự tái sinh và khẳng định sự hiện hữu. Hai người lực sĩ trong ví dụ so sánh tượng trưng cho những lực kéo của các hành động nghiệp của chúng ta bao gồm: Các hành động tưởng chừng là tốt đẹp nhưng lại là những hành động lầm tưởng cũng như các hành động xấu ác của chúng ta. Chính các khuynh hướng nghiệp của chúng ta, các ý nghĩ khẳng định sự hiện hữu của chúng ta, các kế hoạch và tham vọng của chúng ta, đó là thứ kéo chúng ta xuống hố sâu của vòng luân hồi (saṃsāra) với những khổ đau dữ dội như than hồng rực cháy của nó, chẳng thể nào cưỡng lại được. Do đó, theo ý nghĩa của nghiệp thì tư niệm (ý nghĩ có chủ ý) được xem là thức ăn cho sự tái sinh vào ba cõi hiện hữu (tam giới, bao gồm dục giới, sắc giới và vô sắc giới).

Tư niệm thực biểu hiện bản thân nó bằng những thôi thúc không ngừng của con người trong việc lập kế hoạch và khát vọng, đấu tranh và chinh phục, xây dựng và phá hủy, thực hiện và phá bỏ, phát minh và khám phá, hình thành và thay đổi, tổ chức và sáng tạo. Những thôi thúc này đã đẩy chúng ta vào nơi sâu thẳm của đại dương, vào nơi mênh mông của không gian. Nó đã biến con người trở thành loài động vật săn mồi hung dữ nhất cũng như giúp con người đạt đến đỉnh cao của thiên tài trong nghệ thuật và tư duy sáng tạo.

Sự động loạn nằm ở gốc rễ của tất cả mọi tham muốn cho các hành động tạo nghiệp cũng như ở trong các thôi thúc sáng tạo là một cơn đói không ngừng nghỉ đòi hỏi bốn loại thức ăn này của sự sống. Chúng ta thèm muốn bốn loại thức ăn này ở dưới nhiều hình thức khác nhau và ở trong nhiều cấp độ khác nhau, từ thô tháo cho đến cao cả. Tư niệm phải đi “cướp phá” để cung cấp cho chúng ta thức ăn mà mình thèm muốn. Nó trở thành một nhiệm vụ không ngừng nghỉ, bởi vì, bất kỳ một sự thỏa mãn nào mà chúng ta có được đều chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, và cuối cùng nó sẽ sản sinh ra một cơn đói mới mà đó lại là khởi đầu cho một cuộc tìm kiếm thức ăn mới.

Trong vòng tư niệm, thế giới này sẽ xuất hiện hệt như tác động của ý chí, của sức mạnh và sự sáng tạo. Được nuôi dưỡng bởi loại thức ăn mạnh mẽ này, quá trình xây dựng và rồi lại huỷ diệt thế giới cứ tiếp tục mãi cho đến khi bản chất thực sự của vòng luân hồi đau khổ (saṃsāra) được nhìn thấy, là một hố than hồng rực cháy không có đáy mà chúng ta không bao giờ có thể lấp đầy, bất kể chúng ta bị nhận chìm ở trong đó không biết bao nhiêu lần, ở trong nhiều hình thức khác nhau mà chúng ta khoác lên trong quá trình tái sinh từ cuộc sống này đến cuộc sống khác.

4. Thức thực (viññāṇa)

Ví dụ đưa ra trong bản kinh: Một kẻ trộm bị đánh một trăm roi, ba lần mỗi ngày vào buổi sáng, trưa và tối và phải sống để nếm mùi cơn đau đòn vọt đó.

Vào mọi thời điểm bất kỳ trong mỗi ngày cũng như mọi ngày, sự hay biết có ý thức đặt chúng ta vào tình thế phải chịu tác động của thế giới với vô vàn các đối tượng này, phải chịu tác động của các nghiệp quả mang tính trừng phạt do bởi lòng tham và sự si ám của chúng ta trong quá khứ, những thứ đã xuyên thủng qua lớp da bảo vệ của chúng ta bằng những mũi tên sắc nhọn của chúng.

Hình ảnh ví von khắc nghiệt đến sửng sốt của nhận thức như là một sự trừng phạt làm chúng ta liên tưởng đến mô-típ chính thường xuất hiện trong các tác phẩm của Franz Kafka — các tội lỗi ẩn giấu, vô danh, không thấy được và dường như là vô đạo đức của con người vốn có sẳn trong chính sự tồn tại của anh ta, mà bởi vì nó nên anh ta bị trừng phạt một cách khó hiểu và trong sâu thẳm bản thể của mình, anh ta chấp nhận hình phạt đó là công bằng (xem cuốn The Trial, cuốn The Castle và cuốn In the Penal Colony).

Tham muốn về mặt nhận thức cũng mang cùng các đặc tính như tham muốn các ấn tượng giác quan: Đó là tham muốn sống, tham muốn cảm nhận đang sống khi không ngừng tiếp xúc với thế giới đang bày ra ở trước mặt của nhận thức. Tuy nhiên, nhận thức mang một ý nghĩa quan trọng hơn khi được mô tả như là một loại thức ăn. Ở trong ngữ cảnh này, nhận thức được xem là thức tái sinh (thức luân hồi); và mặc dù chỉ xảy ra ở trong từng khoảnh khắc đơn lẻ, thức tái sinh “cung cấp thức ăn” cho toàn bộ tiến trình danh—sắc (nāma-rūpa) xảy ra xuyên suốt sự hiện hữu ở kiếp hiện tại, kể từ lúc sinh ra cho đến khi chết đi. Chính sự khởi sinh của những thức tái sinh đơn lẻ như vậy ở đầu mỗi một kiếp sống ngắn ngủi kế tiếp nhau liên tục mà chuỗi dài vô tận của sinh, tử và đau khổ cứ mãi tiếp diễn. Phát triển, sinh sôi là đặc trưng của mọi nhận thức. Mặc dù bất kỳ một thức tái sinh nào cũng liên quan trực tiếp đến kiếp sống ngay trước đó, nhưng ở đằng sau nó là cả một kho tàng vô tận của quá khứ vô thủy không có điểm khởi đầu, một kho hạt giống rộng mênh mông với vô số hạt giống tiềm năng của kiếp sống. Được nuôi dưỡng bởi những ngóc ngách mờ mịt không thể thấu hiểu được của quá khứ, nhận thức ẩn náu giống như một con bạch tuộc không chỉ có tám mà là một nghìn chân, sẵn sàng nắm lấy và bám chặt vào bất cứ nơi nào nó tìm thấy cơ hội, và ở đó để tạo nên một kiếp sống mới, một hiện hữu mới, mà mỗi sự tái sinh mới như vậy đều có cho riêng mình một bộ xúc tu để bám dính.

Người viết đã từng có dịp đi vào những hang động ngầm lớn có những lối đi dài và những “đại sảnh” giống như một ngôi thánh đường có trần cao với các nhũ đá, măng đá khổng lồ trông giống như là những cột trụ cao ở trong một ngôi nhà thờ lớn. Để thuận tiện cho nhiều du khách đến thăm các hang động này, đèn điện được lắp đặt, và tại những nơi có bóng đèn được lắp đủ thấp, chúng ta có thể nhìn thấy ở xung quanh một ít địa y, là dấu vết duy nhất của sự sống hữu cơ giữa những tảng đá cằn cỗi. Sự sống nảy sinh ở bất cứ nơi nào nó có được một cơ hội nhỏ nhất với các điều kiện thuận lợi như sự ấm áp, độ ẩm và ánh sáng. Đối với du khách, hình ảnh sinh sôi vô hại nhỏ bé này của đời sống thực vật nguyên thủy tượng trưng cho những đặc tính đáng sợ của một con thú săn mồi, rằng sau khi ẩn nấp lâu ngày trong bóng tối, cuối cùng nó cũng có cơ hội để nhảy ra ngoài cùng với cơn đói của nó.

Sự sống luôn sẵn sàng nảy nở, và biểu hiện phong phú nhất của nó là ở trong nhận thức, sự hay biết. Chính từ góc nhìn hạn hẹp của chúng ta mà nhận thức đóng góp phần mình nhiều nhất vào “cõi giới đang mở rộng” của vòng luân hồi đau khổ. Do đó, Bậc Giác Ngộ đã cảnh báo rằng: “Hãy đừng là người mở rộng các cõi giới!” Chính do bởi sự cung cấp thức ăn nhận thức cũng như các loại thức ăn khác một cách vô độ và tham lam của chúng ta mà cõi giới mới “phát triển”; và tiềm năng cho sự phát triển như vậy là vô tận. Việc đoạn diệt cõi giới của nhận thức cũng không thể đạt được bằng những cuộc đi bộ dạo chơi nhàn tản. Với một tầm nhìn tổng thể về toàn bộ thế giới này, nhận thức hiện ra như là một kẻ nuôi dưỡng, là kẻ tạo ra vô số chúng sinh, mà tất cả đều phải trải qua các thử thách khốc liệt hàng ngày của cuộc sống với những ngọn giáo của khổ đau đâm xuyên qua. Một sự hình dung như vậy về phạm vi tác động của nhận thức sẽ xóa bỏ những si ám mê hoặc mang tính ảo thuật, là cách mà Đức Phật đã gọi tên cho toàn bộ sự gộp lại của nhận thức. Không bị lường gạt bởi những sự lừa dối này, chúng ta sẽ ngày càng tiến tới sự ghê tởm, quay lưng và xả bỏ.

Xem xét lại những hình ảnh so sánh mà Đức Phật đã dùng cho bốn loại thức ăn, điều đáng chú ý là tất cả đều gợi lên các hình ảnh về sự đau khổ và nguy hiểm mang tính cực đoan, các tình huống thống khổ nghiêm trọng, bất thường. Có một sự thật rằng quá trình dinh dưỡng hàng ngày cả trên thân lẫn trong tâm là một chức năng rất nhàm chán trong cuộc sống. Do đó, những so sánh khác thường ở trên khuấy động lên một sự bất ngờ to lớn, và thậm chí cả một sự xáo động sâu sắc ở bên trong chúng ta. Các hình ảnh đó nhằm tạo nên một sự không thoải mái, phá vỡ sự thoả mãn không hề suy xét khi chúng ta thực hiện và nghĩ tưởng về những chức năng rất phổ biến này: Ăn uống, cảm thọ, tham muốn và nhận thức.

Quán niệm về bốn loại thức ăn này, sẽ cắt đứt ở tận gốc rễ các sự dính mắc vào sự sống. Việc theo đuổi những pháp quán niệm này một cách triệt để và có phương pháp là một bước đi sâu sắc, được đề nghị dành riêng cho những ai quyết tâm phấn đấu để đoạn tận tham hoàn toàn và do đó vị ấy sẵn sàng đối mặt với mọi hậu quả mà pháp hành này có thể ảnh hưởng đến phương hướng cuộc sống cũng như suy nghĩ trong hiện tại của họ.

Tuy nhiên, ngay cả khi không có được một sự cam kết trọn vẹn như trên, việc quán niệm những lời dạy này về bốn loại thức ăn một cách nghiêm túc và lặp đi lặp lại sẽ có lợi ích cho bất kỳ một vị học trò chân chính nào của Đức Phật. Đối với những ai cảm thấy còn quá sớm để nhắm thẳng đến mục tiêu đoạn tận tham thì Giáo pháp vẫn có đủ giáo huấn để xoa dịu những vết thương gặp phải trong cuộc chiến với cuộc đời, cũng như khuyến khích và hỗ trợ một sự tiến triển vững chắc trên con đường giải thoát. Do bởi đắm chìm trong bản chất khắc nghiệt của cuộc sống này, chúng ta thường mong muốn những hướng dẫn nhẹ nhàng. Tuy nhiên, khi chỉ có những sự nhẹ nhàng như vậy, cộng với việc nếu cơn gió của số phận cũng thổi qua một cách nhẹ nhàng và dễ chịu, chúng ta sẽ có nguy cơ trở nên ổn định với những lề thói thoải mái hàng ngày mà quên đi mất hoàn cảnh mong manh của mình trong thế giới này. Vì vậy, chúng ta cần phải đối diện với Giáo pháp nghiêm khắc này, như ở trong những lời dạy trên về các loại thức ăn. Nó sẽ giúp chúng ta luôn tỉnh táo cũng như củng cố sức mạnh của tâm, để chúng ta trở nên không sợ hãi khi phải đối mặt với sự thật phơi bày về thế giới mà chúng ta đang sống.

Quán niệm về bốn loại thức ăn cho sự sống dạy cho chúng ta rất nhiều điều. Từ sự quán niệm đó, chúng ta có thể học để “không lùi lại trước thực tế cũng như không bị cuốn đi bởi những gì là ảo tưởng, không có thực”. Chúng ta có thể học được rằng, sẽ là khổ đau nếu chỉ được nuôi dưỡng và duy trì bằng bốn loại thức ăn này, rằng: “Khi khổ sanh thời xem là sanh, khi khổ diệt thời xem là diệt”. Và một lời dạy khác của Bậc Đạo Sư sẽ mang một ý nghĩa mới mẻ cũng như ngày càng có sức nặng hơn: “Ta chỉ dạy mỗi một điều này: Đau khổ và sự chấm dứt của đau khổ”.

Bài kinh “Máu thịt của người con trai”

Ở Sàvatthi.

Này các Tỳ-khưu, có bốn loại thức ăn này đưa đến sự tồn tại, hay sự chấp thủ tái sanh cho các loài hữu tình hay chúng sanh.

Thế nào là bốn? Thứ nhất là đoàn thực hoặc thô, hoặc tế; thứ hai là xúc thực; thứ ba là tư niệm thực; thứ tư là thức thực.

Này các Tỳ-khưu, bốn loại thức ăn này đưa đến sự tồn tại, hay sự chấp thủ tái sanh cho các loài hữu tình hay các loài chúng sanh.

Và này các Tỳ-khưu, đoàn thực cần phải nhận xét như thế nào?

Ví như, này các Tỳ-khưu, có hai vợ chồng đem theo một ít lương thực đi qua một quãng đường hoang dã, với một đứa con khả ái, thương mến.

Rồi này các Tỳ-khưu, trong khi hai vợ chồng ấy đang đi trên con đường hoang vu, số lương thực ít ỏi ấy đi đến hao mòn, khánh tận. Và một vùng hoang vu còn lại chưa được họ vượt qua.

Rồi này các Tỳ-khưu, hai vợ chồng người ấy suy nghĩ: “Ðồ lương thực ít ỏi của chúng ta đã bị hao mòn, khánh tận; còn lại vùng hoang vu này chưa được vượt qua; vậy chúng ta hãy giết đứa con một, khả ái, dễ thương này, làm thành thịt khô và thịt ướp, ăn thịt đứa con và vượt qua vùng hoang vu còn lại này, chớ để tất cả ba chúng ta đều bị chết hại”.

Rồi hai vợ chồng ấy giết đứa con một, khả ái, dễ thương ấy, làm thịt khô và thịt ướp, ăn thịt người con và vượt qua vùng hoang vu còn lại ấy. Họ vừa ăn thịt con, vừa đập ngực, than khóc: “Ðứa con một ở đâu? Ðứa con một ở đâu?”

Này các Tỳ-khưu, các Ông nghĩ thế nào? Họ ăn món ăn có phải để vui chơi? Hay họ ăn món ăn để tham đắm? Hay họ ăn món ăn để trang sức? Hay họ ăn món ăn để béo tốt?

– Thưa không phải vậy, bạch Thế Tôn.

– Có phải họ ăn các món ăn chỉ với mục đích vượt qua vùng hoang vu?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Cũng vậy, này các Tỳ-khưu, Ta nói đoàn thực cần phải nhận xét như vậy. Này các Tỳ-khưu, khi đoàn thực được hiểu biết, thời lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết. Khi lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết, thời không còn kiết sử, do kiết sử này, một vị Thánh đệ tử bị trói buộc để phải sanh lại đời này.

Và này các Tỳ-khưu, xúc thực cần phải nhận xét như thế nào?

Này các Tỳ-khưu, ví như một con bò cái bị lở da, nếu nó đứng dựa vào tường, thời các sanh vật sống ở tường cắn nó. Nếu nó đứng dựa vào cây, thời các sanh vật sống ở cây cắn nó. Nếu nó đứng ở trong nước, thời các sanh vật sống ở trong nước cắn nó. Nếu nó đứng giữa hư không, thời các sanh vật giữa hư không cắn nó. Này các Tỳ-khưu, con bò cái ấy đứng dựa vào chỗ nào, thời các sanh vật trong các chỗ ấy cắn nó. Như vậy, này các Tỳ-khưu, Ta nói xúc thực cần phải được nhận xét.

Này các Tỳ-khưu, khi xúc thực được hiểu biết, thời ba cảm thọ được hiểu biết. Khi ba cảm thọ được hiểu biết, thời Ta nói rằng vị Thánh đệ tử không có gì cần phải làm thêm nữa.

Và này các Tỳ-khưu, tư niệm thực cần phải nhận xét như thế nào?

Này các Tỳ-khưu, ví như một hố than hừng, sâu hơn một thân người, chứa đầy than cháy đỏ rực, hừng cháy không có khói. Rồi một người đi đến, muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, chán ghét khổ. Rồi hai người lực sĩ đi đến, nắm chặt hai cánh tay người ấy, kéo người ấy đến hố than hừng ấy. Này các Tỳ-khưu, người ấy quyết chí muốn lánh xa, tinh cần muốn lánh xa, phát nguyện muốn lánh xa hố than hừng ấy.

Vì sao? Này các Tỳ-khưu, người ấy chỉ nghĩ như sau: “Nếu ta rơi vào hố than hừng này, do nhân duyên ấy, ta đi đến chết, hay đi đến khổ gần như chết”. Như vậy, này các Tỳ-khưu, Ta nói rằng tư niệm thực cần phải nhận xét

Này các Tỳ-khưu, khi tư niệm thực được hiểu biết, thời ba ái được hiểu biết. Khi ba ái được hiểu biết, Ta nói rằng vị Thánh đệ tử không có gì cần phải làm thêm nữa.

Và này các Tỳ-khưu, thức thực cần phải nhận xét như thế nào?

Ví như, này các Tỳ-khưu, người ta bắt một người ăn trộm, một người phạm tội, dẫn đến vua và thưa: “Thưa Ðại vương, người này là người ăn trộm, một người phạm tội. Hãy trừng phạt người ấy nếu như Ngài muốn”. Vị vua nói như sau về người ấy: “Các Ông hãy đi và đánh người này với một trăm hèo vào buổi sáng”. Và họ đánh người ấy với một trăm hèo vào buổi sáng.

Rồi vị vua vào buổi trưa nói: “Này các Ông, người ấy như thế nào?” – “Thưa Ðại vương, người ấy vẫn còn sống”. Rồi vua nói về người ấy: “Này các Ông, các Ông hãy đi và đánh người này một trăm hèo vào buổi trưa”. Và họ đánh người ấy một trăm hèo vào buổi trưa.

Rồi vị vua vào buổi chiều nói: “Này các Ông, người ấy như thế nào?” – “Thưa Ðại vương, người ấy vẫn còn sống”. Rồi vua nói về người ấy: “Này các Ông, các Ông hãy đi và đánh người này một trăm hèo vào buổi chiều”.

Này các Tỳ-khưu, các Ông nghĩ thế nào? Người ấy trong ngày bị đánh đến ba trăm hèo, do nhân duyên ấy có cảm thọ khổ ưu không?

– Bạch Thế Tôn, chỉ bị đánh một hèo, do nhân duyên ấy có cảm thọ khổ ưu, còn nói gì bị đánh đến ba trăm hèo!

– Như vậy, này các Tỳ-khưu, Ta nói thức thực cần phải nhận xét.

Này các Tỳ-khưu, khi thức thực đựơc hiểu rõ, thời danh sắc được hiểu rõ. Khi danh sắc được hiểu rõ, thời Ta nói rằng vị Thánh đệ tử không làm gì thêm nữa.

Tương Ưng Bộ Kinh
Tạp 15.11 Tử Nhục, Ðại 2, 102b 

 

Phần trước | Mục lục | Phần kế

Viet Hung | A Happiness pursuer | Author of The Happiness JournalTản mạn về Hạnh phúc and NGẪM CAFÉ
Sách tôi dịch: Tầm nhìn của Pháp, Trái tim thiền Phật giáo, Thiền cho người mới bắt đầu, Nổi loạn và tự doBài chú giải Kinh Mangala SuttaSức mạnh của sự hoài nghi và thiền chánh niệm (Vipassana)Những nguyên lý để sống hạnh phúcChúng ta đang sống vì điều gì?Sự cho đi và Tình thương yêu“Lấy tâm mình làm bạn của chính mình”, Cảm xúc, Thiền với sự hình dung, Căng thẳng, Bản chất cao thượng, Hãy nương tựa vào chính mình, Khuôn mặt vĩ đại trên núi đá, Năm chướng ngại phát triển tâm linh và cách chinh phục
Get your source of inspiration and motivation toward reaching happiness here: https://www.viethungnguyen.com

4 thoughts on “[TNCP] Bốn loại thức ăn cho sự sống

  1. Bản dịch rất súc tích và rõ ràng, thấy được sự hiểu và hành pháp của người dịch là rất sâu. Xin cảm ơn công sức dịch thuật của anh Hùng!
    Mỗi ngày trôi qua càng cảm thấy biết ơn vì có duyên gặp được Phật pháp.

Gửi phản hồi