[Bài Pháp] Thọ mạng và Tái sinh

Được dạy bởi: Ngài Sayadaw U Jotika
Dịch Việt: Việt Hùng

Buổi thuyết pháp này được tổ chức bởi Hội Phật giáo Mangala Vihara (Mangala Vihara Buddhist Fellowship MVF) và diễn ra tại Tu viện Phật giáo Mangala Vihara vào ngày 18/05/2026. Hình ảnh được chụp lại từ video gốc đăng tại kênh Mangala Dhamma Talk. Bài gốc tiếng Anh được ghi xuống ở đây.

Trong lúc chờ đợi Sayadaw chuẩn bị bài trình chiếu, cho phép tôi được giới thiệu đôi lời về Ngài. Tôi nghĩ rằng, người Myanmar biết về Ngài rất rõ. Nhưng một số người Singapore thì có thể chưa biết về Ngài. Ngài Sayadaw U Jotika được sinh ra trong một gia đình không theo Phật giáo ở Moulmein, Myanmar vào năm 1947. Ngài hoàn thành chương trình trung học tại một trường Công giáo La Mã. Ngài tốt nghiệp kỹ sư điện vào năm 1973 tại Học viện Công nghệ Rangoon. Ngài đã rất hứng thú với thiền Phật giáo. Ngài nhận thấy rằng cuộc đời này là bất toại nguyện và hầu hết mọi người dành thời gian quý báu của mình chủ yếu để tích lũy của cải, hưởng thụ dục lạc, danh tiếng, quyền lực và địa vị. Vì vậy, Ngài đã quyết định rời bỏ gia đình, xuất gia trở thành một vị sa môn (sāmaṇera) ở tuổi 26. Ngài thọ giới Tỳ-kheo vào năm 1974 tại Tu viện thiền lâm Taungpulu, với vị thầy giáo thọ của mình là Ngài Đại trưởng lão Hòa thượng Taungpulu Sayadaw. Ngài đã thực hành thiền tập dưới sự hướng dẫn của Ngài cố Đại trưởng lão Hòa thượng Taungpulu Sayadaw trong ba năm. Sau đó, Ngài tiếp tục tu thiền tại Tu viện thiền lâm Htandabin trong 15 năm. Ngài đã nhiều lần đến Singapore để hoằng pháp. Ngài đã có dịp đến Hoa Kỳ từ năm 1983 đến năm 1984, trong khoảng 16 tháng, để giảng pháp. Ngài cũng đã đến thăm nhiều quốc gia khác, bao gồm Úc, Việt Nam, Thái Lan, Anh, Canada, Nhật Bản và Hàn Quốc. Ngài đã thành lập một tu viện thiền lâm gần Bago. Các bài Pháp và sách của Ngài rất được ưa chuộng tại Myanmar cũng như ở nước ngoài. Ngài đã phát hành khoảng 26 cuốn sách về Phật pháp, trong đó những cuốn sách tiếng Anh nổi tiếng bao gồm: “Bản đồ hành trình”, “Tuyết giữa mùa hè”, “Cuộc đời là một trường học” và “Hai thực tại”. Chúng ta có rất nhiều phước báu khi mời được Ngài đến thuyết pháp vào tối hôm nay. Chủ đề của bài Pháp hôm nay là “Thọ mạng và tái sinh”.

Sadhu sadhu sadhu, lành thay!

Tôi xin cảm ơn Ban trị sự của Tu viện Mangala Vihara đã tạo điều kiện tổ chức buổi thuyết pháp vào ngày hôm nay. Tôi cũng xin cảm ơn Đại đức Seelananda, Đại đức Cakkapala và Đại đức Suneetha đã hỗ trợ tôi thông qua nhiều hình thức khác nhau. Nhờ có các Sư mà buổi thuyết pháp mới có thể diễn ra vào ngày hôm nay. Đại đức Suneetha đề nghị tôi thuyết pháp vào ngày hôm nay và tôi đã nhận lời. Vào dịp này năm ngoái, khi tôi ở đây, Đại đức Cakkapala cũng đã đề nghị tôi thuyết pháp. Tuy nhiên, sức khỏe của tôi không được tốt lắm vào thời điểm đó. Năm nay thì tôi nhận lời thuyết pháp và chủ đề của bài Pháp hôm nay, “Thọ mạng và tái sinh”, thực ra là do Đại đức Cakkapala đề xuất. Sư đã hỗ trợ tôi rất nhiều. Tôi xin cảm ơn Sư, cảm ơn Sư rất nhiều.

Vừa lúc nãy, người dẫn chương trình, nữ MC, đã có đôi lời giới thiệu về tôi. Tuy nhiên, trong bài nói chuyện của mình, tôi thường chia sẻ những kinh nghiệm thực tế của chính bản thân mình, chứ không chỉ về những điều tôi đọc được trong sách vở. Vì vậy, trong những câu chuyện mà tôi dự định chia sẻ, tôi cũng sẽ phải nói về chính mình.

Ngắn gọn thì tôi được sinh ra ở thành phố Moulmein, bây giờ đã được đổi tên thành Mawlamyine. Nó nằm ở bên bờ sông Salween, phía nam đất nước Myanmar. Đó là một thành phố rất đẹp. Ở phía đông của thành phố, có một dãy đồi dài, nơi tôi đã đi bộ không biết bao nhiêu lần. Và ở gần nơi chân đồi đó là trường Trung học Saint Patrick. Bây giờ nó đã được đổi tên thành “Trường Trung học Quốc gia số 5”. Còn ở phía tây của thành phố là cửa sông Salween. Nó rất rộng, khoảng ba dặm ngang (gần 5km). Do đó, cảnh vật ở đây rất đẹp. Tôi thường ngồi ở gần bờ sông và ngắm hoàng hôn. Và đôi khi tôi đi bộ lên đồi, ngồi ở trên đồi ngắm hoàng hôn. Tôi thích ngắm nhìn bình minh, hoàng hôn, ngắm nhìn vẻ đẹp của thiên nhiên.

Và đó là pháp hành thiền đầu tiên của tôi, dù rằng vào lúc đó tôi không nghĩ như vậy là thực hành thiền tập. Tôi thường tìm đến một nơi đẹp đẽ và yên tĩnh, chỉ ngồi đó, ngắm nhìn cảnh vật, ngắm nhìn mây trời, chim chóc, lắng nghe tiếng chim hót và rồi trở về nhà đi ngủ. Ở trên dãy đồi đó có rất nhiều tu viện với rất nhiều chuông. Mỗi khi có gió thổi qua, các quả chuông sẽ phát ra âm thanh leng keng, rất êm dịu và du dương. Tôi rất thích lắng nghe các âm thanh đó. Vì vậy, tôi đã ngồi ở đó, rất yên tĩnh, và hầu như là một mình, ngắm nhìn hoàng hôn, lắng nghe tiếng chuông và tiếng chim chóc. Tôi đã cảm thấy rất bình yên vào lúc đó. Theo quan điểm của cá nhân mình, đó là một pháp hành thiền của riêng tôi. Tôi đã không thực hành nó như là một pháp hành tôn giáo. Vào thời điểm đó, khi phải điền vào các mẫu đơn ở trường, ví như họ tên cha / mẹ, tôn giáo, ngày sinh cũng như tất cả những thông tin khác, ở mục tôn giáo, tôi đã điền rằng: “Chưa theo một tôn giáo nào cả”. Tôi phải điền như vậy một cách chân thành. Tôi đã không muốn điền vào đó bất kỳ một tôn giáo nào. Do đó, một cách cởi mở và chân thành, tôi điền vào: “Chưa theo một tôn giáo nào cả”. Và rồi nhiều người đã hiểu lầm về tôi. Nhưng dù sao đi nữa, bản tính của tôi là rất tò mò. Tôi hứng thú với rất nhiều thứ khác nhau, đặt ra rất nhiều câu hỏi cho đến khi bố, mẹ cũng như thầy, cô của tôi mệt mỏi đến độ họ bảo tôi im lặng. Nhưng tôi không thể. Bản tính của tôi là đặt câu hỏi và rồi tìm kiếm câu trả lời. Do đó, tôi nghĩ rằng, nếu họ không cho tôi câu trả lời nào nữa thì cũng không sao cả. Tôi sẽ tự mình đặt ra câu hỏi và rồi tự mình đi tìm câu trả lời. Thực ra, việc họ bảo tôi im lặng hoá ra lại tốt cho tôi. Tôi đã bắt đầu đọc nhiều sách, nhiều thể loại khác nhau bao gồm triết học, tâm lý học, nghiên cứu tôn giáo. Và tôi đã bắt đầu nghiền ngẫm, vậy thì chân lý là gì? Cuộc sống này là gì? Ý nghĩa của cuộc sống là gì? Rất nhiều câu hỏi được đặt ra.

Rồi khi đọc các cuốn sách và tạp chí, tôi tình cờ bắt gặp một bài báo viết về sự chuyển sinh. Tôi đã rất hứng thú về đề tài này, sự chuyển sinh. Một người đã từng là con người nay được sinh ra trở lại thành con người. Vậy là có một cuộc sống ở trong quá khứ. Có cuộc sống ở hiện tại. Và sẽ có một cuộc sống ở tương lai. Điều đó thật tuyệt vời, không thể tin được. Hồi bé, tôi cho rằng đây là lần đầu tiên tôi được sinh ra và sống cuộc sống này. Khi tôi chết, mọi chuyện sẽ kết thúc, thế là hết, sẽ không còn thêm vấn đề nào nữa cả. Giờ đây, tôi bắt đầu tìm hiểu nhiều hơn về ý tưởng được gọi là chuyển sinh này. Tuy nhiên, trong Phật giáo Nguyên thuỷ (Theravada), từ “tái sinh” được sử dụng thay vì “chuyển sinh”. Tôi đã cố gắng tìm hiểu sự khác biệt giữa hai từ này: Chuyển sinh là gì? Tái sinh là gì? Sự khác biệt là gì?

Có một vài ghi chú tôi đã viết xuống ở đây. Chuyển sinh theo nghĩa đen có nghĩa là được tái tạo trở lại bằng xương thịt. Đó là nghĩa đen. Nghĩa là, chúng ta chết đi và trở thành một phi nhân, không còn thân xác vật chất như trước nữa. Và rồi chúng ta được sinh ra trở lại thành một con người với thân xác vật chất (sắc thân) này. Vậy là chúng ta sống trong thân xác vật chất này một lần nữa, chúng ta có được một thân xác vật chất mới. Đó là những gì được gọi là chuyển sinh. Đây là một học thuyết, một đức tin huyền bí rằng, có một phần cốt yếu nào đó của một chúng sinh sẽ tồn tại sau cái chết để được sinh ra lại vào trong một thân xác mới. Từ chuyển sinh được sử dụng bởi vì mọi người tin rằng có một thứ gọi là linh hồn, tin rằng linh hồn là vĩnh cửu, là thường hằng, là không thay đổi. Và linh hồn vĩnh cửu này bây giờ có được một thân xác mới. Tuy nhiên, trong Phật giáo Theravada, không có gì là thường hằng cả. Mọi thứ đều là vô thường. Theo Phật giáo Theravada, có sự tái sinh của tâm tính, nhưng lại không có sự tái sinh của một bản ngã (cái tôi). Đó là sự khác biệt giữa chuyển sinh và tái sinh. Không có sự tái sinh của một bản ngã, chỉ có dòng ý thức liên tục tiếp diễn. Khi chúng ta chết, thân xác cũng chết đi. Nhưng dòng ý thức thì vẫn tiếp diễn không ngừng, luôn luôn thay đổi, luôn luôn mới. Đây là từ mà tôi rất thích.

Còn đây là một đoạn kệ Pāli, mà thực ra chỉ là nửa đoạn thôi. Đoạn kệ này dạy rằng: “Niccam navāva saṅkhārā, dīpajālā samū-pamā”. “Những gì bị điều kiện hoá (các pháp hữu vi) đều luôn luôn mới, giống như lửa của một ngọn đèn”. Ví dụ, khi nhìn vào một ngọn nến, các ngọn lửa cứ cháy liên tục, nhưng chúng (các ngọn lửa) trông y hệt như nhau. Nhiên liệu và ôxy liên tục được dùng để tạo ra ngọn lửa. Do đó, ngọn lửa này thì luôn thay đổi. Tuy nhiên, nó lại giống nhau y hệt. Cũng giống như một dòng sông. Nếu bạn đến và nhìn ngắm một dòng sông, nó chảy liên tục không ngừng. Nhưng cho dù nó đã ở đây bao nhiêu năm đi nữa, thì chúng ta vẫn gọi nó bằng cùng một cái tên và nghĩ rằng đó là cùng một dòng sông. Nhưng nó không phải là cùng một dòng sông. Nó luôn luôn mới. Khi tôi nghe và đọc về chuyển sinh, tôi đã rất hứng thú với đề tài này và đi hỏi những người khác để biết thêm về chuyển sinh. Nhưng cha mẹ tôi không thể giải thích cho tôi được và các thầy cô của tôi thì lại không thích tôi hỏi hoặc nói về đề tài này. Vậy nên tôi phải đi tìm các sách, báo liên quan. Và tôi đã tìm thấy một cuốn sách do Hội Nghiên cứu Tâm linh ở London xuất bản. Hội này được thành lập vào năm 1802, cách đây rất lâu rồi. Trong cuốn sách đó, tôi tìm thấy một vài bài báo viết về chuyển sinh và nhiều hiện tượng tâm linh khác nữa. Rất, rất thú vị.

Vì vậy, tôi đã cố gắng tìm càng nhiều sách càng tốt về đề tài này. Sau đây là một vài cuốn sách nổi bật tôi muốn chia sẻ với các bạn. Cuốn thứ nhất có tên là “20 trường hợp gợi ý về sự chuyển sinh” (20 cases suggestive of reincarnation). Tôi có cuốn sách này. Nếu bạn muốn một bản copy, tôi có thể cho bạn. Nó có sẵn ở trên Internet, miễn phí. Bạn có thể tải về miễn phí. Đây là một cuốn sách rất quan trọng được viết bởi bác sĩ Ian Stevenson. Ông ấy là bác sĩ tâm thần và cũng là giáo sư tại Khoa Y của Trường Đại học tiểu bang Virginia. Nhưng về sau, ông ấy trở nên hứng thú với các trường hợp chuyển sinh và từ bỏ vị trí giáo sư để bắt đầu thực hiện các nghiên cứu của riêng mình về chuyển sinh. Ông ấy đã thực hiện điều đó cho đến khi hoàn toàn nghỉ hưu. Tổng cộng thời gian, tôi nghĩ là hơn 43 năm. Trong cuốn sách này, ông ấy ghi chép lại 20 trường hợp thực sự thú vị về chuyển sinh. Vị bác sĩ này, Ian Stevenson, đã đến Myanmar và gặp Ngài Sayadaw U Silananda. Có ai ở đây đã gặp Ngài Sayadaw U Silananda trực tiếp chưa? Bạn đã gặp rồi à? Còn ai khác nữa không? Ngài đã đến tu viện này và giảng một khóa học về Vi Diệu Pháp (Abhidhamma). Bác sĩ Ian Stevenson và Ngài Sayadaw U Silananda thực sự là những người bạn rất thân. Chính bản thân Ngài Sayadaw U Silananda cũng nhớ lại được tiền kiếp của mình. Tôi đã được học với Ngài ở trường của Ngài, có thể nói như vậy, ở Mandalay. Tôi sống cùng trong một tòa nhà với Ngài. Tôi ở tầng trên, Ngài ở tầng trệt. Chúng tôi thọ thực cùng nhau. Ngài dạy tôi tiếng Pāli. Nhưng theo một cách nào đó, tôi là một học sinh đặc biệt. Tôi không thể vào các lớp học thông thường. Ngài Sayadaw U Silananda bảo rằng: “Con đã học tiếng Anh và nghề kỹ sư rồi. Nên con không cần phải bắt đầu từ đầu”. Ngài đưa cho tôi nhiều cuốn sách về ngữ pháp Pāli cũng như các tác phẩm văn học Pāli. Khi tôi không hiểu điều gì đó thì tôi đến hỏi Ngài. Còn lại thì tôi có thể tự mình học tập. Ngài chỉ hướng dẫn tôi học tập mà thôi.

Anh, chị em của Ngài Sayadaw U Silanada đã kể cho tôi nghe về người em trai của họ, về kiếp trước của vị ấy. Vị ấy đã được tái sinh vào gia đình của Ngài đến hai lần. Đó là một trường hợp rất thú vị. Vì lý do đó mà bác sĩ Ian Stevenson đã cố gắng tìm gặp Ngài Sayadaw U Silananda và họ đã thảo luận về sự tái sinh, chuyển sinh. Ở đất nước Myanmar, hầu hết mọi người đều tin vào tái sinh. Nếu bạn đến và nói chuyện về tái sinh ở bất kỳ một ngôi làng nào, mọi người sẽ chia sẻ rằng: “Ồ, ở làng chúng tôi, có người này, người kia… Anh ấy đã từng là một con người ở làng này. Anh ấy nhớ mình đã chết như thế nào”. Họ sẽ kể cho bạn câu chuyện đó một cách chi tiết.

Và đây là một cuốn sách khác của bác sĩ Ian Stevenson: “Những đứa trẻ nhớ về kiếp trước” (Children who remember previous lives). Tôi cũng có cuốn sách này. Trẻ em khi khoảng tầm bốn tuổi thường bắt đầu nói về kiếp trước của mình, nếu chúng nhớ được. Và càng lớn lên, chúng bắt đầu mất hứng thú về những cuộc sống trước đây. Bởi vì, cuộc sống ở hiện tại trở nên thú vị và quan trọng hơn, vốn là một điều tự nhiên. Đối với một số người, họ nhớ về kiếp trước cho đến khi họ ở độ tuổi 20 hoặc 30. Và rất hiếm hoi, một số người nhớ về kiếp trước của mình cho đến khi họ khá lớn tuổi. Họ không quên.

Và đây là một cuốn sách khác. Tôi giới thiệu đến các bạn những cuốn sách này bởi vì hiện nay có rất nhiều người đang nghiên cứu về chuyển sinh hay tái sinh một cách rất nghiêm túc. Tại sao lại như vậy? Bởi vì chính bác sĩ Ian Stevenson tin rằng, nếu có nhiều người hiểu được sự thật về chuyển sinh hay tái sinh hơn, thì họ sẽ có một cái nhìn rất khác về thế giới này, về con người và về cả chính bản thân mình. Tôi sẽ chia sẻ thêm chi tiết hơn ở phần sau. Vị bác sĩ này, tiến sĩ Jim B Tucker, hiện vẫn còn sống. Ông ấy là trợ lý của bác sĩ Ian Stevenson. Hồi còn trẻ, ông ấy là một bác sĩ kiêm nhà trị liệu tâm lý. Ông ấy có một sự nghiệp rất thành công ở vào thời điểm đó. Sau này, ông ấy bắt đầu quan tâm đến hiện tượng chuyển sinh và tìm gặp bác sĩ Ian Stevenson để hỏi về vấn đề này. Họ đã gặp gỡ và thảo luận về tái sinh nhiều lần. Sau đó, bác sĩ Jim Tucker đã từ bỏ công việc trị liệu tâm lý và thực hiện các nghiên cứu về tái sinh. Bởi vì, ông ấy cảm thấy điều này quan trọng hơn đối với nhân loại. Điều đó là sự thật. Nếu bạn thực sự hiểu và tin rằng bạn đã từng là một con người trước đây, và bạn sẽ được tái sinh vô số lần nữa, thì cách bạn nhìn nhận người khác sẽ thay đổi hoàn toàn. Cả cách bạn nhìn nhận về bản thân mình cũng sẽ thay đổi hoàn toàn. Và điều đó cũng đã xảy ra đối với tôi.

Đây là một cuốn sách khác của bác sĩ Ian Stevenson. Cuốn này thú vị hơn: “Nơi luân hồi và sinh học giao thoa với nhau” (Where reincarnation and biology intersect). Ông ấy đã nghiên cứu những trường hợp có những vết bớt bẩm sinh, chẳng hạn như vết thương, vết đạn, vết dao hoặc bất kỳ vết bớt đặc biệt nào khác. Một số trẻ em khi sinh ra đã có vết bớt bẩm sinh ở trên đầu, trên ngực, trên lưng hoặc bất kỳ một nơi nào khác trên cơ thể. Ông ấy đã lần theo những câu chuyện này và nhận thấy đây là một cách tốt hơn để chứng minh rằng con người được tái sinh. Cuốn sách này rất thú vị.

Còn đây là một cuốn sách khác. Vị tác giả này, FWH Myers, là một trong những người sáng lập ra Hội Nghiên cứu Tâm linh ở London. Cuốn sách này có tên là “FWH Myers và Cuộc tìm kiếm ở thời đại Victoria về cuộc sống sau cái chết” (FWH Myers and the Victorian Search for Life after Death). Vẫn cùng một chủ đề về sự tái sinh, về cuộc sống sau cái chết, rằng cuộc sống cứ tiếp diễn. Và đây là cuốn “Tái sinh – Niềm hy vọng của thế giới” (Reincarnation – A Hope of the World) của bác sĩ Irving S. Cooper. Cuốn sách này được xuất bản bởi Nhà xuất bản Thuyết thần học (Theosophical Publishing House). “Niềm hy vọng của thế giới”, tại sao lại như vậy? Nếu bạn hiểu rằng, trước đây, bạn đã từng là một con người, bây giờ bạn vẫn là một con người và bạn sẽ được tái sinh hết lần này đến lần khác như là một con người, hoặc có thể như là một phi nhân hoặc là một vị người trời (vị thần), nếu bạn hiểu một cách sâu sắc về điều này, khi nhìn vào những người khác, bạn sẽ không nghĩ rằng người này là người lạ nữa. Bạn sẽ không cho rằng điều gì xảy ra đối với vị ấy cũng không quan trọng, không phải là vấn đề của tôi nữa. Nếu bạn tin vào tái sinh, khi nhìn vào một ai đó, bạn sẽ nghĩ rằng, người đó có thể đã từng là anh trai, là cha, là ông hoặc là con trai của mình. Bạn sẽ gặp lại người đó theo nhiều cách khác nhau. Có thể người đó sẽ trở thành cha, ông, anh trai hoặc thậm chí là hàng xóm của bạn. Bạn sẽ gặp lại người đó nhiều lần, hết lần này đến lần khác. Như vậy, theo một cách nào đó, bạn cảm thấy có một sự kết nối với người đó. Nếu tất cả mọi người đều tin rằng, chúng ta đã từng gặp nhau trước đây, bây giờ chúng ta gặp lại nhau, chúng ta sẽ cảm thấy gần gũi với nhau hơn. Chúng ta sẽ cảm thấy yêu thương với nhiều lòng trắc ẩn hơn. Và nếu bạn cần giúp đỡ, mọi người sẽ giúp bạn ở trong khả năng của họ.

Tương tự như vậy, tôi gặp tất cả các bạn ở đây vào ngày hôm nay. Rồi chúng ta sẽ gặp lại nhau, có thể là ở trong kiếp hiện tại này. Đúng vậy, nếu tôi sống đủ lâu, nếu các bạn sống đủ lâu. Cũng có thể là kiếp sau và kiếp sau nữa. Tôi đã nghe được một vài câu chuyện về tái sinh ở Singapore, những câu chuyện rất thú vị. Như vậy, đây là niềm hy vọng của thế giới. Con người ngày càng trở nên thiên về vật chất hơn. Họ quan tâm đến tiền bạc, lạc thú, của cải, quyền lực, và địa vị. Họ so sánh bản thân mình với người khác và coi thường những người không may mắn như họ. Do đó, một sự hiểu biết về thọ mạng và sự chuyển sinh hay tái sinh, cho dù bạn gọi nó là gì đi nữa, sẽ thay đổi hoàn toàn quan điểm của bạn.

Đây là một cuốn sách khác, “Luận điểm về tái sinh” (The case for rebirth) của tác giả Francis Story – Anāgārika Sugatānanda do Hội Xuất bản Phật giáo (Buddhist Publication Society) Kandy, Sri Lanka xuất bản. Francis Story… Để tôi xem có thể tìm được thông tin gì về ông ấy. Đây rồi… Francis Story được sinh ra vào năm 1910 và mất vào năm 1972, là một học giả, tác giả chuyên về đề tài Phật giáo người Anh, và là một cư sĩ xuất gia. Cư sĩ xuất gia có nghĩa ông ấy là một cư sĩ, nhưng sống cuộc sống của mình như một nhà sư. Ông ấy còn được biết đến dưới tên Anāgārika Sugatānanda. Ông ấy đã quyết định dành hơn 25 năm cuộc đời của mình để nghiên cứu và truyền bá Phật giáo Theravada ở châu Á, có những đóng góp sâu sắc cho triết học Phật giáo cũng như các nghiên cứu mở rộng về giáo lý tái sinh. Francis Story sinh ra ở Croydon, Anh quốc, vào tháng 8 năm 1910. Ông ấy khám phá ra Phật giáo ở tuổi 16, khi đang đọc các nghiên cứu về tôn giáo. Bị cuốn hút bởi giáo lý về nghiệp và tái sinh, ông ấy bắt đầu tự gọi mình là một Phật tử, rất lâu trước khi được thọ giới chính thức. Ở trong một số khía cạnh, câu chuyện của tôi có nét tương tự với câu chuyện của Francis. Ông ấy bắt đầu tìm hiểu về tái sinh khi mới 16 tuổi. Và đó cũng là độ tuổi mà tôi bắt đầu tìm hiểu về tái sinh, khi tôi đang đọc rất nhiều sách…

“Tái sinh – Nghiên cứu về linh hồn con người trong mối liên hệ với tái sinh, tiến hóa, các trạng thái sau khi chết, bản chất phức hợp của con người, thôi miên, v.v.” (Reincarnation – The study of the human soul in its relation to rebirth, evolution, post-mortem states, the compound nature of man, hypnotism, etc.) Bản chất phức hợp của con người. Đó là một điều thú vị. Bạn có thể đoán xem điều đó nghĩa là gì không? Bản chất phức hợp? Không phải chỉ là một, mà chúng ta bao gồm hai thứ. Chúng ta là một bản chất phức hợp. Điều đó có nghĩa rằng, chúng ta là những tâm thức sống ở bên trong cơ thể một con người. Khi chúng ta chết, phần cơ thể sẽ chết đi nhưng phần tâm thức vẫn còn là tâm thức, vẫn y như cũ. Dòng tâm này sẽ tiếp tục tuôn chảy. Như vậy, từ “tâm thức” mang nhiều ý nghĩa. Lát nữa tôi sẽ giải thích về điều này. Cuốn sách này được viết bởi Jerome A. Anderson.

Còn đây là một cuốn sách khác rất thú vị. “Trở về từ Thiên đường – Những người thân yêu tái sinh trở lại trong của gia đình bạn” (Return From Heaven – Beloved Relatives Reincarnated Within Your Family). Một cậu bé đã mất đi giờ được sinh ra lại ở trong cùng một gia đình, với cùng một người mẹ. Và cậu bé nhớ lại được cuộc sống trước của mình. Như vậy, cậu bé trở thành em trai của chính mình. Cuộc sống thật kỳ lạ làm sao. Tôi đã đọc cuốn sách này. Tôi có rất nhiều sách. Tôi chỉ giới thiệu một vài cuốn ở đây thôi. “Trước đây” (Before) của bác sĩ Ian Stevenson, bác sĩ Jim Tucker. “Trở lại với cuộc sống: Những trường hợp phi thường của các em bé nhớ lại kiếp quá khứ” (Return to life: Extraordinary cases of children who remember past lives”). “Tái sinh, một nghiên cứu về sự thật bị lãng quên” (Reincarnation, A Study of Forgotten Truth) của E.D. Walker. “Tái sinh và Luật nhân quả” (Reincarnation and the Law of Karma) của William Walker Atkinson. “Nghiên cứu về Học thuyết Thế giới Cũ – Thế giới Mới” (A study of the Old-New World-Doctrine), “Học thuyết Tái sinh và Nhân quả tâm linh” (Doctrine of Rebirth and Spiritual Cause and Effect), một cuốn sách rất thú vị. Tôi giới thiệu đến các bạn tất cả những cuốn sách này bởi vì tôi nghĩ rằng, một số bạn quan tâm sâu sắc đến tái sinh, chuyển sinh và muốn tìm hiểu thêm về nó. Và nếu các bạn muốn đọc thêm sách, thì đây là những cuốn sách các bạn nên bắt đầu đọc. Còn rất nhiều cuốn khác nữa. Nếu các bạn muốn có bản copy của một số cuốn sách mà tôi có, tôi có thể tặng các bạn.

Và nếu bạn muốn thảo luận về chuyển sinh, tái sinh và Phật pháp, tôi nghĩ rằng chúng ta có thể lên kế hoạch cho việc đó, một nhóm nhỏ thảo luận về tái sinh. Bởi vì rất nghiêm túc về đề tài này mà tôi đã nghiên cứu về tái sinh từ khi mới 15 tuổi cho đến tận bây giờ. Tôi chưa bao giờ ngừng cố gắng để tìm hiểu thêm và thêm nữa, cố gắng tìm kiếm những người thực sự nhớ về cuộc sống trước của họ, những đứa trẻ thực sự có khả năng đó. Gần đây, tôi được biết về một cậu bé nhớ về cuộc sống trước đây của mình. Cách cậu ấy nói chuyện nghe cứ giống như một người trưởng thành, chứ không giống như một đứa trẻ. Giọng điệu, hành vi, cử chỉ, tất cả đều giống như một người lớn. Và tôi cũng biết đến trường hợp một cậu bé khác, mà hiện nay đang là một vị sa-môn rất nhỏ tuổi. Cậu ấy chỉ khoảng tầm 3 hoặc 4 tuổi. Ban đầu, cậu ấy muốn đến thăm một tu viện. Nên cha mẹ cậu ấy đã đưa cậu ấy đến tu viện chỉ để tham quan. Tuy nhiên, khi đến nơi, cậu ấy ngay lập tức trở nên rất thân thiết với tất cả các nhà sư ở đó và gọi họ bằng tên. Khi được hỏi cậu ấy là ai, cậu ấy trả lời rằng: “Tôi là trụ trì của tu viện này”. Do đó, mọi người đã hỏi cậu ấy rất nhiều câu hỏi cũng như cho cậu ấy xem nhiều thứ mà vị trụ trì tiền nhiệm đã dùng. Và cậu ấy có thể nhận ra những thứ mà vị trụ trì trước đây đã dùng, như cặp kính cũ và cây bút máy cũ của ông ấy, là cây bút máy, phải bơm mực vào mới viết được, chứ không phải là loại bút bi bây giờ. Mọi người còn đắp y cho cậu bé để làm cậu ấy vui, bởi vì cậu ấy là sư trụ trì. Cha mẹ cậu bé nghĩ rằng, chẳng mấy chốc rồi con mình sẽ về nhà. Nhưng sau một thời gian, khi cha mẹ cậu bé đến và hỏi vị sa-môn trẻ tuổi: “Vậy khi nào thì con về nhà đây?”, cậu ấy trả lời rằng: “Không, con không về nhà. Con sẽ ở lại tu viện”. Thật dễ thương, rất đáng yêu, một vị sư già đáng kính giờ trở thành một vị sư trẻ. Thật tuyệt vời, thật kỳ diệu. Cuộc sống thật kỳ lạ, thật tuyệt vời và thú vị làm sao. Không có hồi kết. Cho dù học về cuộc sống này bao lâu đi nữa, bạn cũng sẽ luôn luôn tìm ra được một điều gì đó mới mẻ.

Còn đây là cuốn “Dấu hiệu của tái sinh – Khám phá về đức tin, các trường hợp cụ thể và lý thuyết” (Signs of reincarnation – Exploring beliefs, cases, and theory). Cuốn này ghi lại cách quan sát trẻ em để biết liệu chúng có phải là người được tái sinh hay không. Nghĩa là việc nghiên cứu được thực hiện mà không hỏi các cháu bé bất cứ một điều gì. Một cách tự nhiên, những đứa trẻ đã từng là con người trước đây cư xử như một người trưởng thành. Chúng được gọi là “sớm phát triển”. Bạn có hiểu từ “sớm phát triển” này có nghĩa là gì không? Nó có nghĩa là tư duy và kỹ năng của chúng vượt trội hơn so với tuổi của mình. Chúng học hỏi rất nhanh. Đôi khi không cần ai dạy chúng cả. Chúng tự học. Điều đó rất thú vị. Còn đây là cuốn “Một hành trình kéo dài: Tái sinh và cuộc sống sau cái chết” (The long trajectory: Reincarnation and life after death), của bác sĩ Erich Weiss, được xuất bản vào năm 2009. Đây là cuốn “Tái sinh” của bác sĩ người Pháp, Gustave Geley. Ông ấy đã nghiên cứu rất nhiều về giao tiếp tâm linh. Bạn có biết “giao tiếp tâm linh” nghĩa là gì không? Một người đã chết, nhưng bạn có thể liên lạc với thần thức của họ. Tôi có một sự hứng thú sâu sắc về đề tài này và cũng vẫn đang nghiên cứu về nó. “Những linh hồn cũ xưa” (Old souls), một cuốn khác về chuyển sinh, tái sinh. Và họ sử dụng từ “linh hồn cũ”. Điều đó có nghĩa rằng, người đó từng là một con người trước đây. Anh ấy không còn trẻ nữa. “Liên lạc với thế giới bên kia – Bằng chứng mới nhất về việc giao tiếp với người đã chết” (Contact with the other world – he latest evidence as to communication with the dead), vâng… đây là điều tôi vừa mới nhắc đến, của bác sĩ James H. Hyslop. Tôi đã đọc nhiều sách của ông ấy. Đây là một trong số đó. “Tái sinh trong Phật giáo sơ kỳ và các nghiên cứu ở hiện tại” (Rebirth in early Buddhism and current research). Tác giả của cuốn sách này là một nhà sư, Bhikkhu Anālayo. Ông ấy là một giáo sư. “Tái sinh: Giáo lý và trải nghiệm – Các bài luận và nghiên cứu tình huống cụ thể” (Rebirth as doctrine and experience – Essays and case studies), của Francis Story, một cuốn sách khác của ông ấy. Cuốn sách có lời giới thiệu của Ian Stevenson. Khi bác sĩ Ian Stevenson đến châu Á để nghiên cứu về các em bé nhớ được kiếp trước, Francis Story đã giúp đỡ ông ấy rất nhiều. Bởi vì Francis Story đã nghiên cứu về những người nhớ được kiếp trước từ rất lâu trước khi bác sĩ Ian Stevenson thực hiện việc nghiên cứu của mình. Vì vậy, Francis Story đã giúp đỡ bác sĩ Ian Stevenson. Đó là tất cả những cuốn sách mà tôi muốn giới thiệu đến các bạn.

Bây giờ, tôi sẽ kể cho các bạn nghe hai câu chuyện. Tôi biết rất rõ những con người trong hai câu chuyện này. À, xem nào… Tôi cần phải giải thích một vài điều trước khi kể chuyện. À, đây rồi… Các bạn biết đấy, các triết gia Hy Lạp, khá nhiều triết gia Hy Lạp, đã nghiền ngẫm về tái sinh. Plato, một trong những vị triết gia nổi tiếng nhất, đã nói nhiều về tái sinh trong các tác phẩm của ông ấy, như Phaedo, Phaedrus, Meno, Cộng hòa. Cộng hòa là một cuốn sách rất nổi tiếng, nói về cách phát triển một quốc gia. Và Apollonius, vâng, tôi cũng đã đọc sách của ông ấy. “Ở giữa hai trạng thái”, các bạn đã từng nghe cụm từ này chưa “ở giữa hai trạng thái”? Một con người tái sinh trở lại thành một con người, tuy nhiên, ở giữa đó có một khoảng trống. Trong kinh điển Pāli, có một vài từ liên quan đến việc này. Đầu tiên, đó là từ sambhavesī. Sambhavesī thường được giải thích trong các bản chú giải Phật giáo là “người đang tìm kiếm sự tái sinh”, đang tìm kiếm một nơi chốn để được sinh ra. “Tìm kiếm một nơi chốn” có nghĩa là tìm kiếm một người mẹ. Nó thường được dùng để đối lập với từ bhūta, là từ để chỉ những người đã được sinh ra rồi. Như vậy, một bên là những người đã được sinh ra, còn bên kia là những người đang tìm kiếm sự tái sinh. Trong kinh điển Pāli, đặc biệt là trong Kinh Tạng (Sutta Pitaka) có đề cập đến từ gandhabba. Có ai từng nghe nói về từ gandhabba này chưa? Có ai biết về từ đó không? Bạn biết từ gandhabba à? Vâng, vâng. Tôi sẽ giải thích ngay. Gandhabba đôi khi được diễn giải là một sự tồn tại trung gian hoặc là chúng sinh sắp được sinh ra. Đó là ý nghĩa của từ gandhabba, là chúng sinh sắp được sinh ra làm người. Ở đây, khi sử dụng từ “được sinh ra”, nó có nghĩa là được sinh ra bởi một người mẹ. Không có người mẹ, làm sao chúng ta có thể nói rằng, một ai đó được sinh ra? Chúng ta không thể nói vậy. Gandhabba là một chúng sinh sẵn sàng để đi vào tử cung của người mẹ và đang có mặt ở hiện tại. Đức Phật dạy rằng: “Này hỡi các Tỳ-khưu, người mẹ và người cha gần gũi với nhau. Người mẹ đang trong thời kỳ dễ thụ thai và một thần thức, gandhabba, sẵn sàng để đi vào tử cung của người mẹ đang có mặt ở hiện tại”. Như vậy, từ gandhabba này, có thể dịch là một thần thức. Tôi không tìm được từ nào hay hơn cả. Một thần thức sẵn sàng đón nhận một cuộc sống mới, và do đó, nó đang tìm kiếm một người mẹ phù hợp. Chính nhờ sự kết hợp của ba điều kiện này mà sự thụ thai mới có thể xảy ra.

Gandhabba là một chúng sinh có tâm thức đã sẵn sàng để tái sinh. Nó có cùng một nghĩa đó từ nhiều nguồn sách khác nhau, mà tôi trích dẫn sau đây: Một chúng sinh sẵn sàng đón nhận một sự tồn tại mới, một thể tâm thức hoá thân đang ở trong trạng thái trung gian tìm kiếm sự tái sinh vào cõi dục giới, thích hợp và sẵn sàng được sinh ra như là con của một cặp bố, mẹ. Như vậy, có nhiều cách khác nhau để cùng diễn tả về tái sinh. Gandhabba này, thần thức này, mà đó có thể là một vị người trời (deva), hoặc là một deva ở cấp thấp hơn, đang tìm kiếm một người mẹ phù hợp và rồi chờ đợi, chờ đợi cho đến khi cơ thể người mẹ sẵn sàng cho việc thụ thai. Vậy điều đó có nghĩa là gì nhỉ? Hãy suy nghĩ về điều đó. Chờ đợi, tìm kiếm một người mẹ và chờ đợi đến thời điểm thích hợp. Điều đó có nghĩa là bạn có sự lựa chọn. Thật là kỳ diệu. Từ quan điểm đó, có thể nói rằng bạn lựa chọn cuộc đời của mình, dù đó là tốt hay xấu, và nghiệp của bạn cũng tham gia ở đó. Còn đây là một định nghĩa khác về gandhabba. Đôi khi, chúng được xem là một dạng mức thấp hơn của thần thánh. Một vị thần cũng có nghĩa là một thần thức. Một vị thần là một chúng sinh siêu nhiên, nam thần hoặc nữ thần. Vậy nên, có thể bạn đã từng là một vị nam thần hoặc nữ thần, một vị người trời (deva) trước khi trở thành con người. Ai mà biết được? Ai mà biết được nhỉ?

Hãy nghiền ngẫm về điều đó. Luân hồi (saṃsāra) thật sự kỳ diệu. Và nó cũng thật sự bí ẩn, không dễ hiểu. Nhưng mặc dù nó không phải là một điều dễ hiểu, hãy cố gắng hết sức để hiểu về nó. Bởi vì càng hiểu rõ hơn về cách nghiệp vận hành như thế nào, cách tâm thức vận hành như thế nào, cách cuộc sống vận hành ra sao, bạn lại càng có thể hướng bản thân mình đến một vị trí tốt hơn, để có một cuộc sống tốt đẹp hơn và cả việc thực hành Pháp nữa. Và đó là những gì tôi đang làm ở thời điểm hiện tại này. Tôi đã chuẩn bị cho điều này trong nhiều năm rồi, học hỏi và rèn luyện bản thân về cách mình sẽ chết. Mỗi tối, trước khi đi vào giấc ngủ, tôi tự nhủ rằng, mình có thể chết khi đang ngủ. Vậy thì tôi muốn chết như thế nào đây, chết với trạng thái tâm nào đây nhỉ? Tôi đã tự bảo mình rằng, tôi muốn chết một cách rất bình yên, định tĩnh và tĩnh lặng. Vào khoảnh khắc đó, tôi không muốn nghĩ về bất cứ điều gì, ngoài sự định tĩnh, bình yên và trống rỗng. Và với trạng thái tâm như vậy, nó có nghĩa là tôi muốn chết trong khi hành thiền. Khi hành thiền, tâm của bạn trở nên rất định tĩnh, tĩnh lặng và bình yên. Đó là thiện pháp. Và trạng thái tâm định tĩnh, tĩnh lặng và bình yên này mang trong nó rất nhiều năng lượng và sức mạnh. Với nguồn năng lượng và sức mạnh đó, bạn có thể hướng tâm mình đến nơi bạn muốn. Và nó sẽ đến được nơi đó.

Tôi nghĩ rằng một vài người ở đây có biết đến Ngài Mahasi Sayadaw. Rất nhiều người Myanmar biết Ngài. Tôi đã gặp Ngài khi còn trẻ. Và Ngài Mahasi Sayadaw đã dạy trong cuốn sách của Ngài, cuốn “Pháp hành thiền Vipassana cơ bản” mà tôi đã có dịch sang tiếng Anh từ bản tiếng Miến Điện. Ngài dạy rằng, việc lựa chọn cuộc sống mà bạn muốn không phải là việc khó, không phải là một điều gì đó phi thường. Bạn sẽ nói gì đây? Bạn nghĩ rằng điều đó là dễ hay khó? Bạn nghĩ rằng đó là một điều phi thường hay bình thường? Ngài Mahasi Sayadaw dạy rằng, đó là một hiện tượng bình thường và không khó xảy ra. Tại sao Ngài lại tuyên bố như vậy? Ngài phát biểu điều này là dành cho các thiền sinh. Nếu bạn rèn luyện tâm của mình thật tốt, nếu bạn có thể làm cho tâm mình trở nên định tĩnh, tĩnh lặng và bình yên, khi đó, bạn có thể lựa chọn thọ mạng (cuộc sống) của mình. Hầu hết mọi người cho rằng, bạn chết đi và sẽ tái sinh, nhưng bạn không có quyền lựa chọn nơi bạn sẽ được sinh ra trở lại. Tuy nhiên, bạn chưa bao giờ cố gắng để lựa chọn cả. Bạn thậm chí còn chưa bao giờ suy nghĩ về điều đó một cách nghiêm túc. Như vậy, từ gandhabba này là một từ rất quan trọng.

Bây giờ, tôi sẽ kể cho các bạn nghe về những con người mà tôi đã gặp, những người nhớ được cuộc sống trước đây của họ. Khi còn học ở trường trung học Saint Patrick, tôi đọc được một số bài báo và những câu chuyện về những người nhớ được cuộc sống trước của họ. Tôi đã nói với các bạn của mình rằng, đây thực sự là những câu chuyện thú vị, thật kỳ diệu, và khó tin. Có người nhớ lại cuộc sống trước đây của mình, người thân của họ và thậm chí cả những nơi chốn, thành phố hay ngôi nhà trước đây của họ. Cậu bé hoặc cô bé đó luôn bảo rằng: “Con muốn về nhà, con muốn về nhà”. Cha mẹ của các cháu nhắc lại: “Đây là nhà của con mà.” Và đứa trẻ trả lời: “Vâng, đây là nhà của con. Nhưng con còn có một ngôi nhà khác ở đó”. Đôi khi cậu bé thốt lên: “Ôi, con nhớ con của con. Con nhớ con của con quá.” “Con là con trai, con chưa kết hôn, làm sao con lại có thể có con được?” Cậu bé đáp lại rằng: “À, ở trong cuộc sống trước, con đã kết hôn và có con. Và bây giờ, con nhớ chúng”. Có rất nhiều câu chuyện như vậy ở Myanmar. Văn hóa Miến Điện, văn hóa Phật giáo ủng hộ niềm tin này. Và theo một cách nào đó, niềm tin này cho phép đứa trẻ nhớ lại cuộc sống trước đây của mình và diễn đạt điều đó. Nếu cha mẹ không tin điều này và ngăn cản con cái nói về nó, đứa trẻ sẽ im lặng và thậm chí là quên đi luôn những thông tin này. Ở đây, sự hỗ trợ từ văn hóa và cha mẹ là rất quan trọng.

Ở trong lớp của tôi, có hai anh em sinh đôi tên là Myint Aung và Tint Aung. Tôi phải nhớ tên của họ rất cẩn thận. Vì là sinh đôi nên tên của họ cũng rất giống nhau, Myint Aung và Tint Aung. Một người bạn bảo rằng: “Hai anh em sinh đôi đó nhớ được cuộc sống trước của họ đấy.” Tôi thốt lên rằng: “Thật vậy sao?” Chúng tôi học cùng lớp với nhau rất lâu rồi, nhưng không ai nói với tôi về điều đó cả. Thế là tôi nói chuyện với hai anh em Myint Aung và Tint Aung về chuyển sinh hay tái sinh, bạn muốn gọi nó là gì cũng được. Và họ xác nhận rằng: “Vâng, tôi nhớ được cuộc sống trước đây của mình.” “Các bạn có thể kể cho tôi nghe những gì các bạn nhớ về cuộc sống đó được không?” Câu hỏi đầu tiên tôi hỏi họ là: “Các bạn đã chết như thế nào?” Họ kể rằng, vào lúc đó, họ đang đạp xe, cả hai cùng đi trên một chiếc xe đạp và đang đi xuống dốc. Khi lao dốc, tốc độ lao xuống sẽ rất nhanh. Và mọi người thích cái cảm giác chuyển động nhanh đó. Tuy nhiên, khi rẽ vào khúc cua, một chiếc ô tô lao tới và đã đâm vào họ. Một người chết ngay lập tức, người kia chết ba ngày sau đó trong bệnh viện. Tôi tiếp tục hỏi họ thêm vài câu hỏi. “Chuyện gì đã xảy ra khi các bạn chết?” Và người chết ngay lập tức kể rằng: “Tôi biết chiếc xe sắp đâm vào tôi, nhưng lúc đó tôi đã không còn ở trong cơ thể mình nữa”. Cú va chạm mạnh đã đẩy thần thức ra khỏi cơ thể. “Tôi không cảm nhận được gì cả”. Người chết trong bệnh viện chia sẻ rằng, anh ấy không chết ngay lập tức và anh ấy cảm nhận đau đớn từ những chỗ xương bị gãy. “Rồi chuyện gì xảy ra sau đó?”, tôi hỏi. Người chết ngay lập tức trả lời rằng: “Tôi đã đi theo bạn của tôi đến bệnh viện”. Bạn thấy đấy, họ thương yêu nhau rất nhiều, như thể họ thực sự là anh em ruột. Anh ấy đã đi theo bạn của mình đến bệnh viện và ở lại với bạn của mình trong bệnh viện, ở gần nơi giường bệnh. Luôn có mặt ở đó để… tôi không biết phải diễn tả như thế nào… luôn có mặt ở đó sẵn sàng cho người bạn của mình. Ba ngày sau, người bạn ấy qua đời. Và cả hai cùng nhau rời đi, rời khỏi bệnh viện. Thi thể được để lại đó và được chôn cất trong nghĩa trang. Tôi đã đến thăm nghĩa trang đó vài lần. Ở đó có những cây cối rất to lớn, với những tán lá rộng, rợp bóng mát, bởi vì chúng hấp thụ được rất nhiều phân bón tốt. Toàn là những cây cổ thụ to lớn. Hầu hết mọi người thậm chí còn không muốn vào nghĩa trang, ngay cả vào ban ngày.

Tôi đã đến nghĩa trang đó vào ban ngày. Và một lần khác đến vào ban đêm, không có đèn điện gì cả, hoàn toàn tối om. Tôi đi cùng một người bạn. Nhưng khi chúng tôi chuẩn bị vào nghĩa trang thì bạn tôi bảo rằng: “Không, tôi không đi vào đó đâu”. “Nếu không vào thì cậu về nhà đi. Tôi sẽ vào trong đó”. Thế là tôi đi vào trong nghĩa trang, ở đó rất lâu cho đến khi trăng lên và bầu trời sáng trở lại. Tôi đã rất tò mò và luôn nghiên cứu về tái sinh cũng như về đời sống tâm linh. Tôi muốn gặp gỡ và kết bạn với các thần thức (linh hồn), muốn trò chuyện với họ về cảm giác khi là một thần thức. Và tôi hỏi hai anh em sinh đôi rằng: “Các bạn chết khi nào vậy, ngày, tháng, năm nào?” Và họ cho tôi biết ngày, tháng và năm mà họ qua đời. Đó là thời điểm vào giữa Thế chiến thứ hai, khi nó vẫn chưa kết thúc. Quân Đức và tất cả các nước châu Âu và Nhật Bản vẫn đang chiến đấu. Rồi tôi tiếp tục: “Các bạn được tái sinh vào khi nào?” Và họ cho tôi biết ngày tháng năm sinh của họ. Tôi sinh ra vào năm 1947. Họ sinh ra sau tôi, vào năm 1949, hai năm sau đó. Tôi lớn hơn bạn bè trong lớp hai tuổi. Bởi vì hồi bé, tôi rất ốm yếu và không thể nào đến trường. Mỗi khi đến trường, tôi đều cảm thấy mệt mỏi, chóng mặt và đôi khi lại còn ngất xỉu nữa. Do đó, các thầy cô đề nghị: “Về nhà đi, về nhà đi”. Tôi đã không học hành và không thi cử gì cả trong hai năm, cho đến khi đủ sức khỏe để quay lại trường. Đó là lý do tại sao tôi là học sinh lớn tuổi nhất ở trong lớp, là một trường hợp rất đặc biệt. Bởi vì, tôi cứ như là anh trai của tất cả thành viên trong lớp, là anh cả. Tôi thích làm anh cả. Tôi có thể giúp đỡ các bạn trong lớp. Tôi có thể hướng dẫn họ. Tôi rất thích vai trò đó. Ngay cả bây giờ, khi bạn bè cũ đến thăm tôi, họ vẫn đối xử với tôi như là đối với một người anh trai. Bây giờ, tôi là một vị sư già của họ. Đó là nghiệp của tôi.

Quay lại với câu chuyện về hai anh em sinh đôi… Họ đã chết trong Thế chiến thứ hai. Rồi họ được tái sinh trở lại bốn năm sau đó, tôi đoán chừng như vậy. “Có một khoảng thời gian dài ở đây. Lúc đó các bạn ở đâu?” Họ trả lời rằng: “À, chúng tôi sống ở trong một công viên rất đẹp.” Tôi thắc mắc: “Các bạn được chôn cất ở trong nghĩa trang. Các bạn có sống trong nghĩa trang đó không?” “Ồ, không. Chúng tôi không sống trong nghĩa trang. Chỉ có thi thể của chúng tôi trở thành phân bón ở trong nghĩa trang đó mà thôi. Chúng tôi sống trong một công viên đẹp đẽ.” Tôi tiếp tục hỏi họ nhiều câu hỏi khác.
– “Các bạn có bạn bè nào khác ở đó không?”
– “Chúng tôi có một cộng đồng đông đúc ở đó.”
– “Các bạn cảm nhận như thế nào?”
– “Chúng tôi cảm nhận như một con người. Chúng tôi cũng suy nghĩ như một con người. Chúng tôi yêu thương con người. Chúng tôi sống như những con người. Chúng tôi là những con người với một loại cơ thể khác.”

Điều này thực sự kinh ngạc. Nó khiến tôi suy nghĩ rất nhiều. Tôi đã hỏi rất nhiều câu hỏi sau khi nghe câu chuyện này. Họ cảm nhận và suy nghĩ như con người và họ yêu thương con người. Đôi lúc họ chia sẻ rằng: “Khi có thể, chúng tôi sẽ giúp đỡ con người”. Và tôi hỏi họ: “Tại sao các bạn lại trở thành con người một lần nữa?” “Bởi vì, chúng tôi chết khi còn rất trẻ. Khi còn trẻ, chúng tôi mong muốn làm rất nhiều điều. Tuy nhiên, chúng tôi đã không có cơ hội để thực hiện. Bởi vì, chúng tôi chết khi còn quá trẻ. Vì vậy, chúng tôi muốn thực hiện ước mơ của mình, quay trở lại cuộc sống con người, và chúng tôi sẽ làm những gì mà chúng tôi muốn làm ở trong cuộc sống trước đây.”

Tôi tiếp tục hỏi: “Bằng cách nào mà các bạn trở thành con của mẹ các bạn?” Một trong hai anh em trả lời rằng: “Tôi đến gặp người mẹ tương lai khi bà ấy đang ngủ và xin phép.” Nhà của họ và nhà của tôi không cách xa nhau lắm. Tôi đi bộ tầm mười phút là đến đó. Họ sống trong một ngôi nhà lớn, kiểu nhà Anh quốc gồm hai tầng và một tầng áp mái. Tôi thường đến chơi nhà họ. Tôi cũng đã leo lên tầng áp mái. Họ có rất nhiều sách. Cha và ông của họ đều là những người được giáo dục rất tốt, và ông của họ đã được học ở bên Anh. Khi trở về Myanmar, ông ấy đã mang theo về rất nhiều sách, cất giữ ở trên tầng áp mái. Tầng áp mái đó rất rộng rãi. Tôi cũng gặp gỡ mẹ của họ. Vào thời điểm đó, chúng tôi thường đến chơi nhà của nhau và sống như là anh em. Tôi có thể ăn ở nhà của họ và họ cũng có thể ăn ở nhà của tôi. Chúng tôi rất thân thiết, là những người bạn thân. Khi có dịp gặp mẹ của họ, tôi đã đặt câu hỏi với bà ấy: “Cháu đã nói chuyện với các con trai của bác về việc họ được tái sinh như thế nào.” Và bà ấy đã xác nhận câu chuyện: “Vâng, vâng, … Trước khi chúng trở thành con trai của bác, một ngày nọ bác mơ thấy một cậu bé nhỏ tuổi, đẹp trai đến xin phép được ở lại nhà”. Bác đã trả lời rằng: “Chúng tôi không còn phòng trống nào cả. Tất cả các phòng đều đã có người ở”. Họ là một gia đình khá giả, có giáo dục, nên họ thích có phòng ngủ riêng, không giống như những gia đình khác. Một số gia đình thậm chí còn không có cả phòng riêng. Mọi người thường ngủ chung với nhau trên sàn nhà. Nhưng gia đình này có phần Tây hóa, và là một gia đình giàu có, khá giả. Người mẹ kể rằng: “Một cậu bé đến xin phép được ở lại nhà bác. Bác đã bảo với cậu bé rằng không còn phòng trống nào, rất tiếc”. Nhưng một tuần sau đó, cậu bé lại quay trở lại ở trong giấc mơ. Người mẹ mơ thấy cậu bé quay lại và xin được ở lại nhà. Bà ấy bảo: “Nếu con có thể ở tầng áp mái, thì con có thể đến ở lại đây”. Và cậu bé đáp lại rằng: “Ồ, thật là tuyệt vời. Con thích ở tầng áp mái, tầng trên cùng, ở trên tất cả mọi người khác”. Rồi cậu bé ấy tiếp tục: “Con sẽ dẫn theo một người bạn nữa”. Bạn có thể thấy đấy, điều này rất quan trọng. Đây là những người bạn và họ rất thương yêu nhau. Và rồi khi người mẹ sinh con, đó là một cặp sinh đôi.

Và tôi còn hỏi họ nhiều thứ khác nữa, bởi vì chúng tôi học cùng lớp với nhau. Chúng tôi đã về chơi nhà của nhau nhiều lần. Để xem tôi còn hỏi họ những gì nữa nhỉ? Họ chia sẻ với tôi rằng, họ quay trở lại kiếp này vì họ chưa hoàn thành những điều họ muốn làm ở kiếp trước. Và không chỉ vậy thôi, họ còn kể rằng: “Ở trong công viên nơi chúng tôi sống, bạn không cần phải làm việc hay làm bất cứ một điều gì cả. Bạn không cần phải đến trường. Và bạn không có gia đình, không có mẹ, không có cha. Bạn không có một trách nhiệm nào cả. Bạn chỉ ở đó và không làm gì cả”. Họ bảo: “Thật là khó để không làm gì cả”. Do đó, họ muốn trở thành người, muốn học hỏi, giao kết với mọi người. Họ yêu thích mối quan hệ với con người. Như vậy, tình yêu thương con người cũng là một lý do để quay trở lại kiếp sống làm người. Đó là sự dính mắc, tham ái, ham muốn, một năng lượng mạnh mẽ, là những trạng thái tâm đưa chúng ta đến một kiếp sống khác.

Trong vòng luân hồi (saṃsāra) này, yếu tố quyết định là năng lượng, năng lượng tích cực hay tiêu cực. Bất kỳ một tâm thức nào có mức năng lượng cao đều sẽ dẫn đến một kiếp sống khác. Tâm thức có mức năng lượng rất thấp không thể dẫn đến một kiếp sống khác, nhưng có thể mang lại một số nghiệp quả tốt hoặc xấu ở ngay trong kiếp này. Khi bạn vẫn còn sống thì nó vẫn có thể mang lại nghiệp quả. Hãy ghi nhớ về điều này. Nếu bạn có thể huấn luyện tâm mình trở nên định tĩnh, tĩnh lặng và bình yên, trạng thái tâm đó sẽ có rất nhiều năng lượng, không bị tán loạn. Bạn có thể tập trung rất rõ ràng vào một đề mục nhất định. Nếu bạn tập trung vào một đề mục nào đó và duy trì trạng thái tập trung này trong một thời gian dài, năng lượng sẽ được tích tụ. Bạn càng duy trì được trạng thái đó lâu hơn, thì mức năng lượng có được lại càng mạnh hơn lên. Với loại năng lượng mạnh mẽ này, bạn nghĩ tưởng về những gì mình muốn làm, ngay ở trong cuộc sống này hoặc những gì mình muốn trở thành ở trong cuộc sống kế tiếp. Những trạng thái tâm có mức năng lượng cao, các tâm thức có mức năng lượng cao đó có thể trổ ra nghiệp quả. Ngày nay, mọi người luôn bị phân tâm, tán loạn. Chắc chắn là rất khó để họ phát triển được các tâm thức có mức năng lượng cao này.

Và tâm từ… Nếu bạn thực hành tâm từ một cách nhất quán, đều đặn, bất cứ khi nào bạn gặp một người và nhìn người đó, thì một cách tự nhiên bạn sẽ cảm thấy sự gần gũi hoặc cảm nhận được lòng từ ái, rằng bạn muốn người đó được hạnh phúc. Đôi khi, ngay cả trong lúc đang đi bộ trên đường, trên vỉa hè, khi bắt gặp một người và nhìn họ, tôi thầm nguyện rằng: “Cầu mong cho bạn được bình yên”. “Cầu mong cho bạn được bình yên”. Mất bao nhiêu giây để đọc xong câu nguyện thầm ấy nhỉ? “Cầu mong cho bạn được bình yên”. Không quá hai giây. Và chỉ cần như thế là đủ. Nếu bạn thực hành điều này một cách nhất quán, đều đặn, nó sẽ trở thành một thói quen, trở nên tự nhiên. Bạn không cần phải cố gắng suy nghĩ về việc làm điều đó. Bạn đã thực hiện nó rồi. Nếu bạn có thể huấn luyện bản thân mình như vậy, thì tâm từ sẽ có mặt ở bên trong bạn hầu như mọi lúc. Tâm từ là một tâm rất mạnh mẽ. Con người chúng ta có những tần số của riêng mình, những sức mạnh tinh thần bao trùm toàn bộ cơ thể chúng ta. Nó giống như một từ trường bao bọc xung quanh cơ thể của chúng ta. Tùy thuộc vào mức độ mạnh mẽ của nó, mà nó có thể lan tỏa đi xa. Vì vậy, khi bạn gửi tâm từ (mettā) đến một người với một ước muốn chân thành, tập trung tâm vào vị ấy, thì bằng một cách nào đó vị ấy sẽ cảm nhận được, tuy nhiên vị ấy không hay biết được là ai đang gửi tâm từ đến mình. Nhưng khi bạn gặp vị ấy, sẽ có một tâm từ đáp lại bạn một cách tự nhiên. Bạn sẽ cảm thấy rất hỉ lạc khi gặp vị ấy. Vì vậy, hãy cố gắng thực hành rải tâm từ. Đừng nói với ai cả về điều đó cả. Chỉ cần nghĩ tưởng về nó. Chỉ cần rải tâm từ. Bạn sẽ thấy rằng nó thực sự có tác dụng rất to lớn.

Tôi không biết mình có nên kể chuyện này hay không. Tôi có rất nhiều bạn bè. Bạn có thể đoán được tôi có bao nhiêu người bạn không? Ở bất cứ nơi nào tôi đến, kể cả một đất nước hoàn toàn khác, một đất nước xa lạ như Mỹ, Úc, Nhật Bản hay bất kỳ một quốc gia nào mà tôi đến, rất nhanh chóng, bạn bè sẽ tìm đến với tôi. Chúng tôi trở thành bạn bè của nhau, rất dễ kết bạn. Tôi cảm thấy rất hạnh phúc về điều đó. Đó là cách chúng ta nên sống cuộc sống này, với tâm từ và lan tỏa tâm từ. Sống như vậy có khó không? Bạn nghĩ là điều đó có khó làm không? Không, tâm từ là một điều rất tự nhiên đối với chúng ta. Ngay cả đối với trẻ nhỏ, nếu bạn để ý, bạn sẽ thấy rằng… Tôi rất yêu trẻ con. Tôi nghiên cứu về chúng, thực sự là vậy. Có đôi lúc, tôi đến một nơi mà tôi có thể ngồi và quan sát trẻ em chơi đùa. Khi có một đứa trẻ bị đau, một bé gái nhỏ khác đã chạy về nhà lấy thuốc và quay lại bôi thuốc cho bé kia. “Đừng khóc, đừng khóc nào”. Cô bé đã trở thành một cô y tá, nhưng “cô y tá” này chỉ tầm khoảng ba tuổi. Cô bé đã chăm sóc một đứa trẻ khác bị đau. “Đừng khóc. Đừng khóc nào”, cô bé vỗ về. Như vậy, tâm từ là một điều tự nhiên ở bên trong chúng ta. Tuy nhiên, tôi không hiểu nổi là tại sao ngày nay mọi người lại… họ quên mất điều đó. Họ quan tâm đến những thứ khác, những trò giải trí trên điện thoại. Thật là tán loạn.

Đối với tôi, con người là điều quan trọng và thú vị nhất. Đối với tôi, cuộc sống là điều quan trọng và thú vị nhất. Điều quan trọng nhất đối với tôi là việc nâng cao chất lượng tâm của mình, nâng cao chất lượng cuộc sống của mình, nâng cao chất lượng các mối quan hệ của mình với mọi người. Và học hỏi cũng là điều rất quan trọng đối với tôi. Tôi yêu thích việc học hỏi. Tôi bắt đầu học ngay cả trước khi đến trường. Nhưng như tôi đã chia sẻ, tôi quá ốm yếu nên không thể đến trường. Và tôi tự học ở nhà. Tôi thích học hỏi kể từ khi bắt đầu đọc sách, cầm sách lên và đọc. Và tôi cũng thích nghiền ngẫm. Đó là điều mà mẹ tôi và các chị họ của tôi, những người lớn hơn tôi rất nhiều… Mẹ tôi là con út trong gia đình có chín anh chị em. Vì vậy, chị gái cả của mẹ tôi đủ lớn để làm mẹ của mẹ tôi. Các chị họ của tôi cũng xấp xỉ tuổi với mẹ tôi. Họ là chị họ của tôi và họ cũng trở thành như một người mẹ khác của tôi. Họ đã chăm sóc tôi lúc tôi còn bé và kể cho tôi nghe về cách tôi cư xử khi còn nhỏ. Họ kể rằng, tôi thích được độc lập. Tôi không thích họ ẳm tôi đi lòng vòng. Tôi bảo rằng: “Thả em xuống, thả em xuống, thả em xuống”. Khi được ẳm trên tay, tôi không thể làm những gì mình thích. Nó cứ như kiểu kiểm soát toàn bộ cơ thể của tôi vậy. Tôi không thích điều đó. Tôi cũng không khóc hoặc phàn nàn về bất cứ điều gì. Chỉ khi nào tôi thực sự bị đau, thì tôi mới khóc. Họ bảo rằng: “Hầu hết thời gian, các chị thậm chí còn không biết em đang ở đâu”. Bởi vì họ không nghe thấy tiếng của tôi. Tôi yên lặng, ngồi trong một góc và nghiền ngẫm hoặc xem một thứ gì đó. Đôi khi mẹ tôi hỏi tôi rằng: “Con đang suy nghĩ gì vậy? Sao con lại suy nghĩ quá nghiêm túc về điều đó như vậy?” Tôi thích suy nghĩ. Tôi thích đọc sách, hứng thú với chủ đề về thiên nhiên, con người. Tôi quan sát mọi người, và đôi khi tôi có thể đọc được cả suy nghĩ của họ, ngay cả lúc tôi còn nhỏ. Nếu tôi đọc được suy nghĩ của bạn thì sao nhỉ?

Chúng ta được sinh ra với tính cách và bản chất riêng của mình, đi cùng với những ký ức từ cuộc sống trước đây. Những ký ức trong quá khứ đó vẫn đang ảnh hưởng đến trạng thái tâm hiện tại của chúng ta. Khi còn nhỏ, tôi cảm thấy như có một người khác lớn tuổi hơn đang ở bên trong mình. Có đôi lúc, tôi cảm nhận như có một ai đó lớn tuổi hơn mình đang ở gần bên. Sau này, khi nghiên cứu về tâm lý học, tôi đoán rằng, đó là ký ức từ kiếp trước của tôi. Và bằng một cách nào đó, ký ức về kiếp trước cũng đã giúp đỡ và hướng dẫn tôi. Tuy nhiên, khi càng lớn tuổi, hai con người này lại hòa lại làm một. Bây giờ, hầu như tôi không còn cảm thấy có hai con người ở bên trong mình nữa. Hãy suy nghĩ về điều này. Bất cứ điều gì mà chúng ta đã làm trong quá khứ đều không biến mất. Nó không bao giờ biến mất. Nó vẫn ở đó. Đặc biệt là những trạng thái tâm có mức năng lượng cao, chúng vẫn còn ở đó. Chúng sẽ tạo ra các ảnh hưởng mỗi khi có thể. Tôi cảm thấy mình là một ông cụ rất lớn tuổi ở trong cuộc sống trước. Tôi cư xử như một ông cụ, ngay cả khi còn bé. Chưa bao giờ cảm thấy mình là một đứa trẻ cả. Ngay cả khi bố mẹ tôi làm một điều gì đó sai, tôi đã bảo rằng: “Đừng làm thế. Điều đó là sai”. Và họ đã hỏi lại rằng: “Con có phải là cha của bố mẹ không?” Cũng có thể, tôi không biết. Chúng ta được sinh ra với tính cách của riêng mình.

Thêm một điều này nữa… Tôi rất thích đọc sách. Chúng tôi được dạy về cuộc đời của Đức Phật ở lớp học tiếng Miến Điện trong trường phổ thông. Ở trong tiếng Miến Điện, câu chuyện đó được gọi là “Zat Daw Gyi”, một câu chuyện lớn, một câu chuyện thiêng liêng vĩ đại. Mặc dù câu chuyện chủ yếu được kể bằng tiếng Miến Điện, thỉnh thoảng có một vài câu kệ tiếng Pāli được trích dẫn. Thầy bảo sẽ không hỏi chúng tôi bất cứ một điều gì về các câu kệ Pāli này. Chúng tôi chỉ cần học phần tiếng Miến Điện thôi. Và thầy cũng không dạy về các câu kệ Pāli đó. Tuy nhiên, tôi đã đọc những câu kệ Pāli và tìm cách dịch chúng từng chữ một. Tôi rất hứng thú khi đọc được nội dung. Do đó, tôi đã nghiên cứu các câu kệ Pāli này cũng như nhiều câu kệ Pāli khác nữa. Đó là một cuốn sách dày. Và dần dần, tôi học được cách đọc tiếng Pāli. Đã không có ai dạy tôi tiếng Pāli cả. Tôi chỉ đơn giản bắt đầu học bằng việc đọc, đọc, đọc và đọc rất nhiều cuốn sách về Phật pháp.

Hồi còn nhỏ, tôi rất thích âm nhạc. Có một người sau này trở thành bạn tôi, anh ấy là một nghệ nhân chế tác nhạc cụ. Anh ấy chế tác những cây đàn vi-ô-lông, măng-đô-lin, ghita, đàn hạc, banjo và nhiều loại nhạc cụ có dây khác. Mỗi khi đi ngang qua cửa hàng của anh ấy, tôi đều dừng lại và xem anh ấy làm đàn. Vào thời điểm đó, anh ấy khoảng tầm hơn 30 tuổi. Anh ấy độc thân, trông rất điềm tĩnh, vui vẻ và bình yên. Tôi quá thích cây vi-ô-lông anh làm, nên đã bảo với anh ấy rằng: “Tôi muốn mua một cây vi-ô-lông. Anh làm cho tôi một cái nhé.” “Được được, em đợi tôi tìm gỗ tốt rồi sẽ làm.” Thế là tôi đợi và rồi anh ấy tìm được một miếng gỗ tốt với vân gỗ đẹp. Anh ấy đã cắt gỗ và ghép chúng lại với nhau, tạo thành một cây vi-ô-lông. Nó trông giống như một con bọ có những vòng xuyến ở hai bên cánh. Đó là một cây vi-ô-lông rất đẹp. Tôi vẫn còn dính mắc với cây vi-ô-lông của mình. Và tôi cũng đã mua một cây đàn măng-đô-lin ở chỗ anh ấy. Tôi học đàn vi-ô-lông và đàn măng-đô-lin ở chỗ anh ấy. Tôi đến nhà anh ấy để học đàn. Vài ngày sau, vào một buổi tối nọ, anh ấy bảo: “Chúng ta hành thiền cùng với nhau nhé”. Vào thời điểm đó, tôi chưa từng nghe nói đến thiền bao giờ. Tôi hỏi: “Em cần phải làm gì khi hành thiền?” Anh ấy bảo: “Cứ ngồi như bình thường, giống như em đang ngồi vậy. Giữ thân thẳng. Hít vào. Thở ra. Hít vào một hơi thật sâu. Hít vào. Thở ra. Đặt sự chú ý ở nơi đầu mũi và cảm nhận luồng không khí đi vào và đi ra. Khi đặt sự chú ý ở đó, em sẽ hay biết rằng luồng không khí đi ra ấm hơn luồng không khí đi vào. Chỉ vậy thôi.” “Vâng, em sẽ làm như vậy.” Và tôi hỏi tiếp: “Em sẽ thiền trong bao lâu?” Nếu anh ấy bảo tôi thiền trong một tiếng đồng hồ thì ắt rằng tôi sẽ từ chối: “Em có việc bận phải làm rồi, xin lỗi anh.”, rồi đi về nhà. Nhưng anh ấy bảo chỉ mười phút thôi. Tôi nghĩ mười phút thì không phải là quá lâu. Anh ấy là một người anh tốt bụng và rất yêu thương tôi đến độ đã dạy đàn cho tôi mà không tính phí gì cả. Tôi không mất phí, tôi được học miễn phí. Và thế là anh ấy ngồi ở bên phải tôi. Chúng tôi ngồi cạnh nhau và hành thiền. Hãy nghĩ về điều này. Bạn thấy đấy, cùng nhau hành thiền. Điều đó tạo nên những mối quan hệ bạn bè thực sự tốt đẹp.

Tôi làm theo lời hướng dẫn của anh ấy. Hít thở sâu và dài. Hít vào. Thở ra. Hít vào. Thở ra. Sau chừng mười phút, cơ thể của tôi nóng bừng và tràn đầy năng lượng. Quá nhiều năng lượng đến nỗi toàn thân tôi như rung lên. Rồi anh ấy hướng dẫn: “Bây giờ em có thể ngừng thở sâu. Hãy thở bình thường đi”. Khi nghe lời hướng dẫn đó, tôi ngừng thở sâu lại và nhận thấy rằng mình hoàn toàn ngừng thở, không còn thở nữa. Bởi vì cơ thể của tôi đã bão hòa với quá nhiều ôxy. Nhưng điều đó chỉ xảy ra trong khoảng một phút. Tôi ngừng thở hoàn toàn, chỉ ngồi đó rất tĩnh lặng. Tâm cũng rất tĩnh lặng. Bởi vì tôi đã đặt sự tập trung vào hơi thở của mình trong một khoảng thời gian khá lâu. Tôi rất thích điều đó, sự tĩnh lặng này… Tâm trí của tôi trở nên rất định tĩnh. Cứ hai lần một tuần, tôi đến nhà anh ấy học đàn măng-đô-lin và ngồi thiền. Anh ấy bảo rằng: “Em có thể ngồi bao lâu tùy thích. Và khi nào em muốn về, em có thể đi về và không cần nói năng gì cả.” Đó là một cách hay để bảo tôi về. Bởi vì anh ấy là một thiền sinh, một thiền sinh miên mật. Và đó là khoảng thời gian trong ngày mà anh ấy hành thiền. Anh ấy không muốn đuổi tôi về, nên đề nghị: “Hành thiền đi.” Tôi có thể về nhà bất cứ lúc nào mình muốn. Và anh ấy cũng có thể ngồi thiền bao lâu tùy thích. Nhưng tôi rất biết ơn về điều này. Anh ấy là vị thầy dạy thiền đầu tiên của tôi. Nhiều lần tôi nhớ đến anh ấy và cảm thấy rất biết ơn, vì đã dạy cho tôi pháp hành thiền đơn giản đến vậy. Tôi không hỏi thêm bất cứ điều gì nữa. Anh ấy cũng không nói gì thêm với tôi. Chỉ sau vài ngày, tôi đã thích hành thiền đến nỗi ngồi thiền luôn ở ngay tại nhà mình. Nhà tôi cũng có hai tầng và một tầng áp mái. Tôi sống ở trên tầng áp mái. Bởi vì bố mẹ tôi sẽ không bao giờ lên trên đó cả. Cái thang lên tầng áp mái quá dốc, đến nổi phải đi ngược mỗi khi xuống thang. Do đó, bố mẹ tôi không bao giờ lên trên đó cả. Tôi đã bắt đầu học thiền như vậy và duy trì việc hành thiền cho đến tận ngày hôm nay.

Một câu chuyện khác, ngắn gọn thôi. Chúng ta còn bao nhiêu phút nữa nhỉ? Chỉ còn năm phút nữa thôi sao? À, tôi xin lỗi, tôi không thể hoàn thành trong năm phút được.

Đây là một câu chuyện khác. Lúc nãy tôi đã kể với các bạn rằng tôi học tiếng Pāli, ngữ pháp Pāli, dịch thuật từ tiếng Pāli sang tiếng Anh, và ngược lại với Ngài Sayadaw U Silananda. Tôi sống trong tu viện của Ngài, ở trong cùng một toà nhà với Ngài. Tôi ở tầng trên, Ngài ở ngay tầng dưới. Cũng ở trong tu viện đó, có người bảo với tôi rằng, vị Sa-môn trẻ kia nhớ lại được kiếp trước của mình. Và thế là tôi quan sát vị Sa-môn đó. Trông cậu ấy rất hiền lành, tốt bụng và hay giúp đỡ người khác. Ở vào thời điểm đó, tôi đang phải khốn khổ vì căn bệnh sốt rét. Tôi sống nhiều năm ở trong rừng. Ở trong rừng, tôi dựng một túp lều nhỏ từ y áo cũ và các cây tre để sống. Tôi chỉ có y áo và bình bát. Hằng ngày, tôi đi trì bình khất thực ở trong làng rồi quay trở lại rừng để thọ thực. Ngoài ra, tôi chẳng có gì thêm cả. Không giường, không gối, không chăn, thậm chí cũng không có cả màn chống muỗi. Chỉ có một cái bình đựng nước uống. Tôi phải đi ra suối lấy nước uống và tắm rửa. Tôi đi vào làng để trì bình khất thực, chỉ ăn một bữa trong ngày. Sống một cuộc sống rất giản dị, tối giản. Tôi không thể nào làm cho nó giản dị hơn được nữa. Chỉ một chiếc khăn nhỏ và một chiếc khăn ăn để lau bình bát của mình. Tôi sống như vậy và rồi bị sốt rét, phải nhập viện. Bác sĩ bảo rằng: “Sư đừng quay lại sống ở trong rừng nữa. Sư sẽ lại mắc bệnh”. Do không thể quay trở lại sống ở trong rừng, tôi quyết định đến học với Ngài Sayadaw U Silananda. Tôi đến sống ở tu viện của Ngài bởi vì lý do này. Và tôi đã gặp vị Sa-môn trẻ đó. Tôi thường xuyên bị sốt, những cơn sốt rét. Mỗi khi bị sốt, cơn ớn lạnh thật là khủng khiếp. Vì vậy, tôi thường nằm gần nơi tôi có thể phơi nắng. Ánh nắng làm tôi cảm thấy ấm áp. Và việc ăn uống của tôi đôi lúc cũng rất khó khăn. Tôi không thể tiêu hóa được những thức ăn thông thường, đặc biệt là đồ chiên rán và đồ ăn nhiều dầu mỡ. Vị Sa-môn trẻ ấy đã nấu súp, cháo và nước dùng cho tôi. Cậu ấy thực sự đã chăm sóc tôi rất tốt.

Và khi nghe rằng vị Sa-môn trẻ này nhớ được kiếp trước của mình, tôi đã muốn biết tất cả mọi thứ về cậu ấy. Tuy nhiên, tôi cũng rất ngần ngại hỏi thẳng cậu ấy. Một ngày nọ, tôi hỏi bâng quơ: “Cậu được bao nhiêu tuổi khi chết ở trong kiếp trước?” Cứ như thể tôi đang hỏi một câu hỏi không quan trọng. Cậu ấy đáp: “Tôi được 29 tuổi khi chết ở kiếp đó.” “Cậu còn quá trẻ khi chết ở tuổi 29. Tại sao cậu lại chết? Chuyện gì đã xảy ra với cậu vậy?” Và đây là một điểm rất quan trọng. “Tôi đã không thể sinh em bé.” Đó là lý do cậu ấy chết. Như vậy, ở trong kiếp trước, cậu ấy là một người phụ nữ. Tôi phải kể câu chuyện ngắn gọn lại. Bởi vì, Sư Cakkapala bảo tôi phải kết thúc bài pháp trong vòng mười phút nữa. Mà mười phút cũng đã trôi qua rồi, tôi nghĩ vậy. Xin lỗi. Vào một ngày mùa hè, khi tất cả các buổi học đều đã kết thúc sau mùa an cư kiết hạ, hầu hết các vị tăng ni đều trở về thăm quê. Vị Sa-môn trẻ này cũng trở về thăm ngôi làng của mình. Tôi thì chẳng đi đâu cả, bởi vì tôi chẳng có nơi nào để đi. Thực ra là tôi không có nhà. Khi cậu ấy trở lại tu viện, tôi lại muốn hỏi cậu ấy rất nhiều câu hỏi. “Khi về quê, cậu đã gặp gỡ những ai? Mẹ cậu nấu món gì cho cậu ăn thế?” Vị ấy trả lời: “Ồ, mẹ tôi nấu súp cho tôi ăn. Và bà ấy bảo rằng, con sẽ không bao giờ tìm được loại súp này ở Mandalay đâu. Rồi bà ấy khóc.” Bà ấy khóc vì con trai bà ấy sẽ không được ăn loại súp đó ở Mandalay. Vì vậy, cậu ấy đã ăn những gì mẹ mình nấu. Và tôi tiếp tục hỏi: “Cậu đã gặp gỡ những ai?” “Ồ, nhiều người lắm, những bạn bè cũ và các họ hàng kéo đến thăm tôi.” Rồi cậu ấy bảo rằng: “Người đàn ông đó cũng đến.” Bạn nghĩ người đàn ông đó là ai đây nhỉ? Người con trai? Người chồng? Mà làm sao tôi có thể gọi là chồng của anh ấy, hay chồng của cô ấy? Tôi nên gọi như thế nào đây? “Thế cậu có yêu người đàn ông đó không?” Cậu ấy xác nhận rằng có. Làm sao cậu ấy có thể nói không được nhỉ? Cậu ấy thực sự yêu thương người đàn ông đó. Cậu ấy đã chết, à … cô ấy đã chết đi khi còn rất trẻ. Và những đứa con từ kiếp trước cũng đã đến thăm. “Cậu có yêu những đứa con của mình không?” Một lần nữa, cậu ấy xác nhận rằng: “Vâng. Tôi yêu các con của tôi.” Bạn thấy đấy, tình yêu không bao giờ chết. Hãy suy nghĩ về điều này.

Đôi khi chúng ta trở thành đàn ông và đôi khi chúng ta trở thành phụ nữ ở cuộc sống này. Do đó, đừng quá tự hào về việc mình là một người đàn ông. Hãy ghi nhớ điều đó. Hãy là một người biết yêu thương. Hãy làm bất cứ điều gì bạn muốn với một tâm từ và lòng trung thực. Hãy đối xử với người khác bằng tâm từ, bằng sự cởi mở và bằng lòng trung thực. Còn một điều thú vị khác mà hai người bạn sinh đôi đã chia sẻ với tôi. Ở công viên nơi họ sống, mọi người đều có thể đọc được suy nghĩ của người khác. Bạn không thể nói dối. Tôi nghĩ rằng, mười phút đã hết rồi. Tôi xin lỗi. Tôi có rất nhiều điều muốn nói. Ý chính của câu chuyện là cuộc sống này thực sự tuyệt vời, bất kể nó chứa đựng đầy rẫy những khó khăn, đau khổ, và mất mát. Hãy học hỏi từ cuộc sống của bạn, hãy học hỏi. Chúng ta ở đây là để học hỏi, chứ không phải chỉ để kiếm tiền và hưởng thụ các thú vui dục lạc, mà là kiếm tiền và sử dụng nó một cách có lợi ích nhất. Dục lạc, một chút thôi thì cũng được, giống như việc ăn sô-cô-la vậy. Tôi ăn vài miếng sô-cô-la mỗi ngày, khoảng chừng này thôi. Nhưng như vậy là đủ. Nếu tôi ăn khoảng 1 pound (tầm 450g) sô-cô-la, thì điều gì sẽ xảy ra với tôi nhỉ? Tôi sẽ chết vì trúng thực. Như vậy, cuộc sống là để học hỏi. Tôi bắt đầu học hỏi từ năm 4 hoặc 5 tuổi. Tôi học hỏi mỗi ngày. Và ngay cả bây giờ, sau khi kết thúc buổi pháp thoại này, tôi trở về phòng và sẽ tiếp tục học hỏi. Tôi đã lên kế hoạch học một điều gì đó trước khi ngủ. Cuộc sống là để học hỏi. Hãy học hỏi và trở nên trí tuệ hơn, trở thành một con người thông minh hơn, trở nên tự do hơn. Thực hành Pháp cũng là học hỏi. Nếu bạn thực sự hành thiền, bạn sẽ cảm nhận được rằng, bản thân mình ngày càng tự do hơn cùng với thời gian. Tôi cảm nhận được điều đó. Còn ở thời điểm hiện tại thì tôi lại đang ở rất gần với điểm chuyển giao cuộc sống của mình. Mỗi ngày, mỗi khoảnh khắc đều rất quý giá đối với tôi. Tôi đã học hỏi được rất nhiều. Tôi nghĩ rằng, trong mười năm vừa qua tôi đã học được nhiều bằng 50 năm trước đó. Bởi vì, tôi đã tích lũy được rất nhiều kiến ​​thức đến nỗi việc học trở nên dễ dàng hơn và thú vị hơn đối với tôi. Tôi phải dừng bài pháp thoại ở đây. Tôi rất vui được gặp tất cả các bạn, và tôi hy vọng sẽ còn gặp lại các bạn. Tôi gửi đến các bạn tâm từ từ trái tim của mình. Cầu mong cho các bạn được sức khoẻ. Cầu mong cho các bạn được hạnh phúc. Cầu mong cho các bạn được sống thọ. Cầu mong cho các bạn có thể hành thiền tốt đẹp và cảm nhận được một sự bình yên và tự do sâu sắc.

Sadhu, sadhu, sadhu, lành thay! Cảm ơn Ngài đã dạy một bài Pháp thú vị. Bây giờ chúng ta đến phần hỏi đáp. Chúng ta có năm câu hỏi. Và đây là câu hỏi đầu tiên: “Kính bạch Ngài, chúng ta có thể chọn cha mẹ và nơi tái sinh của mình hay không ạ?”

Vâng, chúng ta có thể chọn cha mẹ của mình, như tôi đã chia sẻ ở đầu buổi. Những gandhabba này, như tôi đã giải thích, đôi khi được coi là một dạng thần linh ở cấp thấp hơn có thể đóng vai trò trong sự thụ thai của một người. Đó là một chúng sinh sẵn sàng đón nhận một cuộc sống mới, hoặc là một thần thức đang ở trong trạng thái trung gian tìm kiếm sự tái sinh trong cõi dục giới. Như vậy, họ đang chờ đợi được tái sinh thành người. Họ chọn người mẹ tương lai và chờ đợi cho đến khi người mẹ đó sẵn sàng thụ thai. Họ chờ đợi điều đó xảy ra. Nghĩa là họ lựa chọn và chờ đợi. Các bạn có thể tìm thấy điều này trong kinh điển Pāli. Đây là một đoạn trích từ kinh điển Pāli: “Này hỡi các Tỳ-khưu, cha mẹ đến với nhau”. Các bạn biết điều đó có nghĩa là gì. “Người mẹ đang trong thời kỳ dễ thụ thai…”. Các bạn cũng biết điều đó có nghĩa là gì. “… và một thần thức…”, được gọi trong tiếng Pāli là gandhabba, “… và một thần thức sẳn sàng để đi vào tử cung của người mẹ đang có mặt ở hiện tại”. Điều đó có nghĩa là có một gandhabba đang hiện diện, chờ đợi, và sẵn sàng để đi vào tử cung của người mẹ. Như vậy, đó là một sự lựa chọn.

Câu hỏi thứ 2: “Kính bạch Ngài, Đức Phật của chúng ta là chuyển sinh hay tái sinh ạ?”

Đây là một câu hỏi rất hay. Trong Phật giáo Nguyên thuỷ (Theravada), anattā (vô ngã) là một sự thật rất quan trọng về cuộc sống. Không hề có một cái tôi thường hằng. Trong Phật giáo Theravada, chúng ta gọi đó là tái sinh, chứ không phải là chuyển sinh. Chuyển sinh có nghĩa là có một linh hồn thường hằng chuyển từ cuộc sống này sang cuộc sống khác, trong một cái thân mới. Một linh hồn là thường hằng ở trong một cái thân mới. Nhưng trong Phật giáo Theravada, không có gì là thường còn cả. Mọi thứ đều sinh ra và diệt đi. Vì vậy, anicca (vô thường) và anattā (vô ngã), hai sự thật này về tâm và thân là rất quan trọng. Do đó, thực ra chúng ta không nên dùng từ “chuyển sinh”. Đôi khi tôi dùng từ đó, vì trong một số trường hợp, sẽ dễ hiểu hơn khi dùng nó. Chuyển sinh và tái sinh… Làm sao chúng ta có thể nói người này là một sự tái sinh? Dù sao đi nữa, hãy hiểu rằng trong Phật pháp không có attā, không có một thực thể vĩnh hằng, chỉ có ý thức nối tiếp ý thức. Ý thức, ý thức… Mỗi ý thức đều là một ý thức mới. Đức Phật dạy rằng: “Niccam navāva saṅkhārā, dīpajālā samū-pamā”. Vì tất cả các saṅkhārā – pháp hữu vi đều mới, nên không có gì là cũ cả. Tương tự như ngọn lửa của một ngọn đèn. Ngọn lửa này luôn luôn cháy và luôn luôn là mới. Vì vậy, chúng ta nên sử dụng từ “tái sinh”.

Câu hỏi tiếp theo: “Kính bạch Ngài, con cúi đầu xin được Ngài dạy dỗ ạ. Con muốn hỗ trợ cha mẹ mình trong những giây phút cuối đời của họ, để họ có thể ra đi trong bình yên và được tái sinh vào một nơi chốn tốt đẹp hơn. Xin Ngài cho con hỏi, con nên làm gì để hỗ trợ họ từ bây giờ ạ?”

Làm thế nào để hỗ trợ cha mẹ già để khi qua đời, họ sẽ tái sinh đến một cuộc sống tốt đẹp hơn? Trước tiên, hãy khéo léo nhắc nhở cha mẹ của con thực hành thiền tâm từ. Bởi vì, nếu không có tâm từ thì cho dù bạn có thực hành bất kỳ một pháp hành thiền nào khác đi chăng nữa cũng vẫn là không đủ. Thực hành thiền tâm từ là việc đầu tiên. Nó là nền tảng của cuộc sống của chúng ta. Trở thành một con người đầy lòng nhân từ và tử tế là một trong những điều quan trọng nhất của con người. Do đó, hãy khéo léo nhắc nhở cha mẹ của con nghĩ về mọi người, về các thành viên trong gia đình và bạn bè của họ với tâm từ. Và nếu cha mẹ của con còn có thể thực hành nhiều hơn nữa thì hãy dạy họ đặt sự tập trung lên hơi thở, chú ý kỹ càng những gì đang xảy ra ngay bây giờ mà không suy nghĩ. Bạn không cần bất kỳ một từ ngữ hay khái niệm nào để chú ý đến những gì bạn đang cảm nhận được ngay lúc này.

Câu hỏi tiếp theo: “Khi nghĩ về những gì xảy ra sau cái chết, mọi thứ đều trở nên không chắc chắn và mơ hồ. Vậy tại sao con đang sống cuộc sống này? Con chỉ muốn sống tốt nhất có thể. Con không muốn suy nghĩ quá nhiều về những gì đến sau cái chết. Liệu kiểu suy nghĩ này có được coi là đoạn kiến, uccheda diṭṭhi không? Con nên nghiên cứu hay nghiền ngẫm về điều này như thế nào để có được một sự hiểu biết rõ ràng hơn ạ?”

Tôi biết rất nhiều người, và kể cả bản thân tôi cũng vậy, như tôi đã chia sẻ, khi còn trẻ, tôi không tin vào bất kỳ một tôn giáo nào. Nhưng dù không tin vào bất cứ một tôn giáo nào, do bởi có hiểu biết về tái sinh mà tôi đối xử với mọi người cứ như là anh chị em ruột thịt của mình. Lòng từ đối với mọi người là điều thiết yếu cơ bản của cuộc sống. Không chỉ con người không thôi, mà cả những thể loại chúng sinh khác cũng vậy, lòng từ là một điều thiết yếu. Do đó, ngay cả khi bạn không tin hoặc không quan tâm đến kiếp sau, nếu bạn là một con người của tâm từ thì trạng thái tâm từ đó sẽ mang lại những nghiệp quả tốt đẹp. Hầu hết mọi người trên thế giới này không phải là Phật tử. Tôi cũng biết nhiều trường hợp được tái sinh, và ở kiếp trước, họ không phải là Phật tử. Họ chỉ là những con người bình thường, chưa bao giờ coi trọng bất kỳ một tôn giáo nào. Khi bạn thực hiện các hành động thiện một cách chân thành, điều đó sẽ mang lại những nghiệp quả tốt đẹp, bất kể đức tin của bạn là gì. Nếu bạn cảm thấy thoả mãn với điều đó, thế thì cũng ổn.

Câu hỏi cuối cùng:Kính bạch Ngài, không biết Ngài đã có cơ hội gặp gỡ hoặc trò chuyện với thế giới linh hồn chưa ạ?”

Ồ, vâng, đây là một câu hỏi rất hay. Như tôi đã kể lúc nãy, hồi còn trẻ, tôi thường đến nghĩa trang vào ban đêm. Bởi vì một số bạn bè của tôi nói rằng, nếu đến nghĩa trang vào đêm rằm và đợi ở đó đến 12 giờ hoặc 1 giờ sáng, tôi sẽ gặp các linh hồn. Bởi vì, họ nghĩ rằng các linh hồn sẽ xuất hiện vào khoảng 12 giờ hoặc 1 giờ sáng. Tôi đã đến đó không chỉ một lần, mà là khá nhiều lần. Nhưng vào thời điểm đó, tôi đã không nhìn thấy bất kỳ một linh hồn nào ở nghĩa trang. Có lẽ là họ quá tử tế đối với tôi. Nhưng, đây lại là một chữ “nhưng”. Đó là khi tôi sống ở tu viện trong rừng. Tôi có nhiều nơi như thế, một ở Pyin Oo Lwin và một ở Naypyidaw. Tu viện ở Naypyidaw có tên là Maha Myaing Tawya. Và hầu hết mọi người biết tôi với tên gọi là Maha Myaing Tawya Sayadaw, Ngài Đại trưởng lão Myaing Tawya. Nơi đó là một ngọn đồi, nhiều đá. Không ai có thể canh tác ở đó được cả. Vì vậy, nó giống như một vùng đất hoang. Không ai muốn sở hữu nơi đó cả. Nếu có thể trồng trọt được gì, thì chắc chắn sẽ có người sở hữu đất đai và trồng trọt. Nó sẽ trở thành đất nông nghiệp. Tuy nhiên, đó là một ngọn đồi toàn đá sỏi nên chẳng có gì mọc lên được cả. Tôi đã sống ở đó. Trước khi tôi đến, người ta gọi nơi đó theo tiếng Miến Điện là “kho báu được chôn dấu dưới đất”. Trước đây, nó đã từng là một ngôi làng lớn, hoặc có thể là một thị trấn nhỏ, từ rất lâu rồi.

Vào những năm 1950, rất nhiều người đã bị giết hại ở vùng đất đó, nơi mà sau này tôi đến sống. Nhiều người nói với tôi rằng, nơi này bị ma ám và có nhiều linh hồn ma quỷ, hung bạo, độc ác ở đó. Tôi đã sống ở đó, rải tâm từ đến tất cả mọi linh hồn. Tôi rải tâm từ đến tất cả chúng sinh hằng đêm. Và đôi khi, vào ban đêm, tôi thấy một nhóm người đi qua đi lại ở phía xa xa. Tuy nhiên, tôi không nghĩ rằng có đường sá ở chỗ đó, toàn là bụi rậm mà thôi. Đến sáng, tôi đi ra kiểm tra xem và không thấy có con đường nào ở đó cả. Có đôi lúc, tôi lấy đèn pin và đi tìm họ vào ban đêm. Bởi vì tôi thấy ánh đèn và người đi qua đi lại. Trong tiếng Miến Điện, chúng tôi có danh từ riêng để gọi họ. Họ giống như con người chúng ta, sống ở trong một ngôi làng và tận hưởng cuộc sống của họ, thậm chí còn ca hát và nhảy múa vào ban đêm. Như vậy là tôi thấy một nhóm người đi qua đi lại ở chỗ không có đường sá. Và tôi đã trải nghiệm điều đó vài lần.

Một câu chuyện khác là khi tôi đến sống tại một ngôi nhà của bạn tôi. Một ngày nọ, vào ban ngày, có người mời tôi đến dùng bữa. Vì vậy, tôi đã đến nhà người đó. Trước khi ra ngoài, tôi kiểm tra tất cả các cửa sổ và cửa ra vào. Tuy nhiên, trong nhà có một phòng với cửa lưới mà tôi không thể khóa được từ bên ngoài. Tôi chỉ có thể khóa từ bên trong thôi. Do đó, tôi đã không khoá cái cửa lưới đó. Tôi khóa cửa ngoài. Khi trở về nhà sau bữa ăn, tôi đã không thể đẩy mở cái cửa lưới được. Tôi đã đẩy rất mạnh nhưng không mở cánh cửa đó được. Với nhiều sức lực, cuối cùng tôi cũng mở được cửa. Khi vào bên trong kiểm tra, tôi thấy cái gờ cửa đang ở vị trí cần phải được nâng lên và xoay vào. Điều đó không thể tự xảy ra được. Tôi đã kiểm tra xem có đồ đạc gì của mình bị mất không? Không có gì bị mất cả. Vào ban đêm, khi đang ngủ, tôi nghe thấy tiếng di chuyển của xoong nồi, tiếng nấu nướng. Có ai đó đang nấu ăn. Nhưng tôi đã không có cơ hội nói chuyện với linh hồn, mặc dù tôi thực sự muốn.

Cảm ơn Ngài đã trả lời tất cả các câu hỏi.

Sadhu, sadhu, sadhu, lành thay!

Viet Hung | A Happiness pursuer | Author of The Happiness JournalTản mạn về Hạnh phúc and NGẪM CAFÉ

Vipassana pocket app: www.tinhbyviethung.app
Facebook: https://www.facebook.com/viethungbehatt
Youtube: https://www.youtube.com/user/viethungnguyen/videos
Spotify: https://open.spotify.com/show/68zoT4dkqHYPW8kP8ksv5P

Sách tôi dịch: Tầm nhìn của PhápTrái tim thiền Phật giáo, Thiền cho người mới bắt đầu, Nổi loạn và tự doBài chú giải Kinh Mangala SuttaSức mạnh của sự hoài nghi và thiền chánh niệm (Vipassana)Những nguyên lý để sống hạnh phúcChúng ta đang sống vì điều gì?Sự cho đi và Tình thương yêu“Lấy tâm mình làm bạn của chính mình”Cảm xúcThiền với sự hình dung, Căng thẳngBản chất cao thượngHãy nương tựa vào chính mìnhKhuôn mặt vĩ đại trên núi đáNăm chướng ngại phát triển tâm linh và cách chinh phục
Get your source of inspiration and motivation toward reaching happiness here: https://www.viethungnguyen.com

Gửi phản hồi