Phần trước | Mục lục | Phần kế
Nghe trên Youtube
Nghe trên Soundcloud
Nghe trên Spotify
Giới thiệu
Bốn trạng thái tâm cao thượng (Tứ vô lượng tâm) như được Đức Phật dạy bao gồm: Từ (mettā), Bi (karuṇā), Hỷ (muditā), và Xả (upekkhā).
Trong tiếng Pāli, ngôn ngữ được sử dụng để ghi chép kinh điển Phật giáo, bốn trạng thái tâm cao thượng này được gọi là Brahma-vihāra. Thuật ngữ này có thể được dịch là: Trạng thái tâm tuyệt hảo, cao quý hoặc siêu việt; hoặc cũng có thể được dịch là: trú xứ giống như Phạm Thiên, Chư Thiên hoặc là trú xứ thiêng liêng.
Bốn trạng thái tâm này được gọi là tuyệt hảo hay cao thượng bởi vì chúng là cách thức ứng xử đúng đắn hoặc là lý tưởng đối với chúng sinh (sattesu sammā paṭipatti). Trên thực tế, chúng đưa ra câu trả lời cho mọi tình huống phát sinh từ các giao tiếp xã hội. Chúng là những nhân tố tuyệt vời xóa bỏ các căng thẳng, mang lại bình yên cho các xung đột xã hội, cũng như chữa lành các vết thương gặp phải trong cuộc đấu tranh sinh tồn. Chúng san bằng các rào cản xã hội, xây dựng những cộng đồng hòa hợp, đánh thức lòng độ lượng lâu nay đang ngủ quên, khơi dậy niềm vui và hy vọng đã bị bỏ rơi từ lâu, cũng như thúc đẩy tình huynh đệ giữa con người với nhau nhằm chống lại các thế lực của lòng vị kỷ.
Tứ vô lượng tâm (Brahma-vihāra) xung khắc với tâm sân, và chúng có phẩm tính tương tự với phẩm tính của chư Phạm Thiên (Brahmā), là các vị thần linh, nhất thời cai quản ở các cõi giới cao hơn, trong tổng thể bức tranh truyền thống của Phật giáo về vũ trụ này. Trái ngược với nhiều quan niệm khác về các vị thần, ở cả phương Đông lẫn phương Tây, những vị được các tín đồ của họ xem là hiện thân cho sự tức giận, phẫn nộ, ghen tị cũng như “sự phẫn nộ chính đáng”, chư Phạm Thiên (Brahmā) là những vị tự do khỏi mọi sân hận; và những ai chuyên cần phát triển bốn trạng thái tâm cao thượng này, bằng giới hạnh và hành thiền, được cho là sẽ trở nên ngang hàng với chư Phạm Thiên (brahmā-samo). Nếu các tâm cao thượng ấy trở thành một sức ảnh hưởng mang tính chủ đạo trong tâm của mình, vị ấy sẽ được tái sinh vào những cõi giới phù hợp, cõi Phạm Thiên. Do đó, những trạng thái tâm cao thượng này được xem là các trú xứ giống như Chư Thiên, Phạm Thiên.
Chúng được gọi là trú xứ (vihāra) bởi vì chúng nên trở thành nơi an trú thường xuyên của tâm, nơi chúng ta cảm thấy “như là ở nhà”; Chúng không nên chỉ là những nơi dành cho các cuộc ghé thăm hiếm hoi và ngắn ngủi, rồi lại nhanh chóng bị lãng quên. Nói một cách khác, tâm của chúng ta cần phải được thấm đẫm hoàn toàn bởi các trạng thái tâm cao thượng này. Chúng nên trở thành những người bạn đồng hành không thể tách rời, và chúng ta cần phải luôn chánh niệm về chúng ở trong mọi hoạt động thường ngày. Như đã được dạy trong Kinh Từ Bi (Mettā Sutta), bài hát về tâm từ, rằng:
Khi đi, đứng, ngồi, nằm,
Kinh Từ Bi
Bao giờ còn thức tỉnh,
Giữ niệm từ bi nầy,
Thân tâm thường thanh tịnh,
Phạm hạnh chính là đây.
Bốn tâm cao thượng này, từ, bi, hỷ và xả, cũng còn được gọi là các tâm vô biên xứ (appamaññā), bởi vì ở trong sự hoàn hảo và bản chất đích thực của chúng, chúng không nên bị thu hẹp lại bởi bất kỳ một giới hạn nào về phạm vi mà chúng mở rộng ra cho các chúng sinh. Chúng nên là rộng rãi và không thiên vị, không bị ràng buộc bởi bất kỳ một sở thích hay định kiến có lựa chọn nào. Một cái tâm đã đạt đến sự vô biên của trú xứ Phạm Thiên sẽ không còn chứa đựng bất kỳ một sân hận nào về quốc gia, chủng tộc, tôn giáo hay giai cấp.
Tuy nhiên, trừ phi đã được bén rễ sâu sắc ở trong một mối quan hệ tự nhiên và mạnh mẽ với một cái tâm cao thượng như vậy, chắc chắn sẽ không hề là dễ dàng để chúng ta thực hiện việc áp dụng tâm vô biên xứ này trong cuộc sống thông qua các nỗ lực có chủ đích mang tính ý chí cũng như chẳng phải là dễ dàng gì để có thể nhất quán tránh được mọi hình thức hay mức độ của sự thiên vị. Để làm được điều đó, trong hầu hết mọi trường hợp, chúng ta sẽ phải sử dụng bốn tâm cao thượng này không chỉ như là những nguyên tắc của giới hạnh cũng như là các đối tượng để quán niệm, mà còn phải sử dụng chúng như là những đề mục của một pháp hành được gọi là Tu tập Tứ vô lượng tâm (Brahma-vihāra-bhāvanā), là pháp hành thiền phát triển tứ vô lượng tâm. Với sự hỗ trợ của bốn tâm cao thượng này, mục đích trên thực tế là để thể nhập vào các tầng thiền định cao cấp, là các tầng mức tập trung cao của tâm lên một đề mục thiền, được gọi là jhāna, “an chỉ tịnh”. Thực hành thiền định với đề mục thiền là tâm từ, bi và hỷ có thể đưa đến việc thể nhập vào ba tầng thiền an chỉ tịnh đầu tiên, trong khi cần phải thực hành thiền định với đề mục thiền là tâm xả mới dẫn đến tứ thiền, tầng thiền an chỉ tịnh thứ tư, mà trong đó xả là yếu tố quan trọng nhất.
Nhìn chung, việc kiên trì tu tập tứ vô lượng tâm sẽ mang lại hai hiệu quả tuyệt vời: Thứ nhất, nó sẽ khiến cho bốn tâm cao thượng này thấm sâu vào trong tâm của vị ấy, biến chúng trở thành những thái độ tự động mà không dễ dàng bị phá vỡ; Thứ hai, nó sẽ làm nổi bật lên cũng như đảm bảo sự mở rộng vô biên xứ của chúng, trình bày phạm vi bao trùm của chúng. Thực tế là những hướng dẫn chi tiết trong kinh điển Phật giáo về pháp hành tu tập tứ vô lượng tâm rõ ràng là nhằm mục đích dần dần khai mở tính vô biên xứ của các tâm cao thượng này. Chúng phá vỡ một cách có hệ thống mọi rào cản hạn chế việc áp dụng chúng đối với các cá nhân hay ở trong những nơi chốn cụ thể.
Trong các bài tập thiền tứ vô lượng tâm, việc lựa chọn những người mà tâm từ, bi hoặc hỷ được hướng đến sẽ tiến triển từ dễ đến khó. Ví dụ, khi thực hành thiền tâm từ, thiền sinh bắt đầu với ước nguyện cho sự an lạc của chính mình, sử dụng nó làm điểm tham chiếu để mở rộng ra dần dần: “Cũng giống như ước mong cho chính mình được an lạc và tự do thoát khỏi mọi đau khổ, cũng như vậy, cầu mong cho người ấy, cầu mong cho tất cả mọi chúng sinh đều được an lạc và tự do thoát khỏi mọi đau khổ!” Sau đó, thiền sinh tiếp tục rải tâm từ đến một người mà vị ấy có lòng kính trọng yêu mến, chẳng hạn là một vị thầy của mình; rồi tiếp tục rải đến những người thân yêu của mình, đến những người mà vị ấy không thương – không ghét, và cuối cùng là đến những kẻ thù của vị ấy, nếu có, hoặc là đến những người mà vị ấy không thích. Bởi vì pháp hành này liên quan đến lợi ích của những người đang sống, nên thiền sinh không nên chọn những người đã chết để hướng tâm mình đến; Vị ấy cũng nên tránh chọn những người mà vị ấy có thể khởi lên những cảm giác hấp dẫn về mặt dục lạc.
Sau khi đã có thể hoàn tất bài tập khó khăn nhất, việc rải tâm từ đến những người mình không thích, bây giờ đến lúc thiền sinh cần phải “phá bỏ toàn bộ các rào cản” (sīmā-sambheda). Không phân biệt giữa bốn loại người được liệt kê ở trên, vị ấy cần rải tâm từ đến họ một cách đồng đều. Ở giai đoạn này, thiền sinh sẽ đạt đến các tầng định cao hơn: với sự xuất hiện các hình ảnh phản chiếu ở trong tâm (paṭibhāganimitta – quang tướng), đạt đến “cận định” (upacāra-samādhi), và rồi vị ấy tiến triển đến trạng thái định tâm hoàn toàn (appanā) trong tầng thiền an chỉ tịnh thứ nhất, rồi lại tiếp tục tiến triển lên các tầng thiền định cao hơn.
Với bài tập mở rộng về mặt trú xứ, việc thực hành bắt đầu với những người ở ngay xung quanh mình, ví như gia đình, sau đó mở rộng đến những nhà hàng xóm, rồi đến toàn bộ con phố, thị trấn, đất nước, các quốc gia khác và ra đến toàn bộ thế giới. Với bài tập “mở rộng ra các phương”, tâm từ của thiền sinh trước hết hướng về phía đông, rồi đến phía tây, phía bắc, phía nam, ở giữa, hướng lên trên và cuối cùng là hướng xuống dưới.
Những nguyên tắc thực hành tương tự cũng được áp dụng cho thiền tâm bi, thiền tâm hỷ, và thiền tâm xả, với những khác biệt nhất định trong việc lựa chọn đối tượng làm đề mục thiền. Chi tiết của các pháp hành này có thể được tìm thấy trong kinh văn (tham khảo Thanh Tịnh Đạo — Visuddhimagga, Chương IX).
Mục đích cuối cùng của việc đạt đến các tầng thiền tứ vô lượng tâm này (Brahma-vihāra-jhāna) là để tạo ra một trạng thái tâm làm nền tảng vững chắc cho trí tuệ giải thoát, là một sự hiểu biết sâu sắc về bản chất thực sự của mọi sự vật và hiện tượng (vạn pháp), vốn dĩ là vô thường, khổ và vô ngã. Một cái tâm đạt đến tầng thiền được tạo ra từ các tâm vô lượng sẽ là một cái tâm thuần khiết, an tịnh, vững chắc, bình thản cũng như tự do thoát khỏi các tâm ích kỷ thô tháo. Đây chính là sự chuẩn bị kỹ càng cho mục tiêu giải thoát cuối cùng, chỉ có thể đạt được thông qua một tuệ giác xuyên thấu.
Những nhận xét trên đây cho thấy có hai cách để tu tập phát triển tứ vô lượng tâm bao gồm: (1) Duy trì cách cư xử đúng đắn trong cuộc sống thường nhật cũng như duy trì một sự định hướng đúng đắn cho suy nghĩ; và (2) Thực hành thiền định có phương pháp hướng đến các tầng thiền an chỉ tịnh. Hai cách thức này hỗ trợ lẫn nhau. Thực hành thiền định có phương pháp sẽ giúp từ, bi, hỷ và xả trở nên tự động. Nó giúp tâm trở nên vững vàng và định tĩnh hơn, chống cự lại được vô số những phiền não trong cuộc sống, là những thứ thách thức chúng ta duy trì bốn phẩm chất cao quý này ở trong suy nghĩ, hành động và lời nói.
Mặt khác, nếu cách cư xử trong cuộc sống hàng ngày của thiền sinh ngày càng được ảnh hưởng bởi những tâm cao quý này, thì tâm của vị ấy sẽ ngày càng ít chứa đựng sân giận, căng thẳng và cáu kỉnh, là những thứ mà phản xạ của chúng ở trong tâm thường xâm nhập một cách vi tế vào trong các khoá thiền, gây nên chứng “trạo cử”. Cuộc sống và suy nghĩ hàng ngày của chúng ta có một ảnh hưởng mạnh mẽ đến tâm thiền của mình; chỉ khi khoảng cách giữa chúng được thu hẹp liên tục thì mới có cơ hội cho một sự tiến bộ ổn định trong thiền cũng như cơ hội đạt được mục tiêu cao nhất của thiền tập.
Tu tập tứ vô lượng tâm sẽ được hỗ trợ bằng việc liên tục quán niệm về các phẩm tính của chúng, về những lợi ích mà chúng mang lại cũng như về những mối nguy hiểm đến từ những mặt đối lập của chúng. Đức Phật đã dạy rằng: “Nếu một người suy xét và quán niệm về một điều gì đó trong một thời gian dài, tâm của vị ấy sẽ uốn cong về, sẽ nghiêng về điều đó”.
Đoạn kinh cơ bản về tứ vô lượng tâm
(Trích dẫn từ kinh điển Phật giáo)
I. Này các Tỳ-khưu, ở đây, vị Thánh đệ tử ấy với tâm câu hữu với từ, an trú biến mãn một phương; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư, như vậy phía trên, phía dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.
Trường Bộ Kinh, 13
II. Này các Tỳ-khưu, ở đây, vị Thánh đệ tử ấy với tâm câu hữu với bi, an trú biến mãn một phương; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư, như vậy phía trên, phía dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với bi, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.
III. Này các Tỳ-khưu, ở đây, vị Thánh đệ tử ấy với tâm câu hữu với hỷ, an trú biến mãn một phương; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư, như vậy phía trên, phía dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với hỷ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.
IV. Này các Tỳ-khưu, ở đây, vị Thánh đệ tử ấy với tâm câu hữu với xả, an trú biến mãn một phương; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư, như vậy phía trên, phía dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.
Quán niệm về Tứ vô lượng tâm
I. Tâm Từ (mettā)
Tâm từ, là tâm không có tham muốn sở hữu, biết rõ ý nghĩa sau cuối rằng, không có sự sở hữu cũng như không có người sở hữu: Đây là hình thức thương yêu cao cả nhất.
Tâm từ, là tâm không nói cũng như nghĩ tưởng về cái “tôi”, biết rõ rằng, cái gọi là “tôi” này chỉ thuần tuý là một ảo tưởng.
Tâm từ, là tâm không lựa chọn cũng như loại trừ, biết rõ rằng, làm như vậy đồng nghĩa với việc tạo ra những những gì là trái ngược với chính tình thương yêu bao gồm: Sự ghét bỏ, mối ác cảm, và sân hận.
Tâm từ, là tâm bao gồm vào bên trong nó tất cả mọi chúng sinh: Lớn cũng như nhỏ, xa cũng như gần, dù là ở trên mặt đất, ở dưới nước hay ở trong không trung.
Tâm từ, là tâm bao gồm vào bên trong nó một cách không thiên vị tất cả mọi chúng sinh hữu tình, chứ không chỉ những ai hữu ích đối với mình, làm mình vui hay làm mình thích thú.
Tâm từ, là tâm bao gồm vào bên trong nó tất cả mọi chúng sinh, dù là cao thượng hay thấp hèn, dù là tốt đẹp hay xấu ác. Những chúng sinh cao thượng và tốt đẹp được bao gồm ở trong tâm từ bởi vì tình thương yêu tuôn chảy đến các vị ấy một cách tự động. Những chúng sinh thấp hèn và xấu ác được bao gồm ở trong tâm từ bởi vì các vị ấy là những người cần đến tình thương yêu nhất. Đối với nhiều người trong số họ, hạt giống của những điều tốt đẹp có lẽ đã chết chỉ bởi do thiếu mất sự ấm áp để phát triển, nó đã chết đi bởi sự lạnh lẽo trong một thế giới không có tình thương yêu.
Tâm từ, là tâm bao gồm vào bên trong nó tất cả mọi chúng sinh, biết rõ rằng, tất cả chúng ta đều là những người lữ khách đồng hành trên nẻo đường luân hồi này — rằng tất cả chúng ta đều đang bị chế ngự bởi cùng một quy luật của khổ đau.
Tâm từ không là phải ngọn lửa của dục lạc, thứ sẽ đốt cháy, thiêu đốt và hành hạ, gây ra nhiều vết thương hơn là chữa lành, bùng lên vào lúc này, rồi lại tắt ngấm ngay sau đó, để lại một sự lạnh lẽo và cô đơn còn nhiều hơn trước.
Thay vào đó, tâm từ tựa như một bàn tay mềm mại nhưng chắc chắn đặt lên vai những chúng sinh ốm yếu, luôn giữ nguyên trong nó sự đồng cảm mà không lưỡng lự cũng như không quan tâm đến bất kỳ phản ứng nào nó sẽ gặp phải. Tâm từ là sự mát mẻ dành cho những ai đang đốt cháy ở bên trong mình ngọn lửa của đau khổ và tham ái; là sự ấm áp mang lại sự sống cho những ai bị bỏ rơi lại ở trong sa mạc lạnh lẽo của sự cô đơn, cho những ai đang run lẩy bẩy trong cái lạnh giá của một thế giới không có tình yêu thương; cho những ai mà trái tim đã trở nên trống rỗng và khô cằn do bởi phải kêu cứu liên tục, do bởi đang ở trong một nỗi tuyệt vọng sâu thẳm nhất.
Tâm từ, là tâm cao quý siêu việt của trái tim và trí óc, thứ có ở bên trong nó sự hiểu biết, sự thấu hiểu cũng như sự sẵn sàng để cứu giúp.
Tâm từ, là tâm có sức mạnh cũng như mang lại sức mạnh, là tình thương yêu cao cả nhất.
Tâm từ, được Đấng Giác Ngộ gọi là “sự giải thoát của trái tim”, là “vẻ đẹp vô lượng nhất”, là tình yêu thương cao cả nhất.
Vậy thì biểu hiện cao cả nhất của tâm từ là gì?
Là để chỉ ra cho thế giới con đường dẫn đến sự đoạn diệt hoàn toàn mọi đau khổ, một con đường đã được Ngài, Đấng Thế Tôn, Đức Phật chỉ ra, bước đi và trọn vẹn hoàn thành đến cuối con đường.
II. Tâm Bi – Lòng trắc ẩn (karuṇā)
Thực tế là thế giới này tràn đầy khổ đau. Tuy nhiên, hầu hết mọi người lại nhắm mắt và bịt tai mình lại. Họ không nhìn thấy dòng nước mắt tuôn chảy không ngừng xuyên qua cuộc sống này; Họ không nghe thấy tiếng kêu khóc của khổ đau liên tục tràn ngập khắp thế gian này. Nỗi buồn hay niềm vui nhỏ nhoi của chính họ đã che kín mắt cũng như bịt kín tai của họ. Bị trói chặt ở trong sự ích kỷ của mình, trái tim của họ trở nên khô cứng và hẹp hòi. Với sự khô cứng và hẹp hòi này, làm sao họ có thể cố gắng phấn đấu cho bất kỳ một mục tiêu nào cao cả hơn được, để nhận ra rằng, chỉ có sự giải thoát khỏi những tham muốn ích kỷ mới mang lại sự tự do giải thoát bản thân mình khỏi mọi khổ đau?
Chính tâm bi (lòng trắc ẩn) sẽ gỡ bỏ cái rào cản nặng nề này, mở ra cánh cửa đến với tự do giải thoát, khiến cho một trái tim hẹp hòi trở nên rộng rãi như thế giới rộng lớn này. Tâm bi xua tan khỏi trái tim gánh nặng của trì trệ, một sức nặng làm tê liệt; Nó chắp cánh cho những ai đang dính mắc vào những vùng đất thấp trũng của cái tôi.
Thông qua tâm bi, sự thật về khổ được phơi bày một cách sống động ở trong tâm của chúng ta, kể cả khi chúng ta đã tự do thoát khỏi ảnh hưởng của khổ. Nó cho chúng ta một trải nghiệm phong phú về khổ đau, mà từ đó khiến chúng ta trở nên vững vàng, sẳn sàng đối mặt khi nó ập đến.
Tâm bi giúp chúng ta hòa giải với số phận của chính mình bằng cách trình bày cho chúng ta thấy cuộc sống của những người khác, mà thường là khó khăn hơn cuộc sống của mình rất nhiều.
Hãy nhìn vào dòng chúng sinh vô tận ở ngoài kia, cả con người lẫn muông thú, đang bị đè nặng bởi nỗi buồn và đau đớn! Luẩn quẩn ở trong vòng luân hồi bất tận này, trong quá khứ, chúng ta cũng đã từng mang trên mình gánh nặng mà mỗi người trong số họ đang mang. Hãy để ý đến điều đó và hãy mở lòng mình ra với tâm bi!
Và gánh nặng đau khổ này rất có thể lại là số phận của chính chúng ta thêm một lần nữa! Người nào ở hiện tại không có tâm bi, thì một ngày nào đó sẽ phải cầu xin nó. Nếu sự đồng cảm với người khác bị thiếu hụt, thì nó sẽ cần phải được tích lũy thông qua trải nghiệm lâu dài và đau đớn của chính mình. Đây là một quy luật vĩ đại của cuộc sống. Hãy hiểu điều đó, và hãy tự bảo vệ chính mình!
Chúng sinh chìm đắm trong vô minh, lạc lối trong si ám, hấp tấp chuyển từ trạng thái đau khổ này sang trạng thái đau khổ khác, mà không biết nguyên nhân thực sự của khổ đau, và cũng không biết cách để thoát khỏi nó. Một sự thấu hiểu sâu sắc về quy luật tổng thể của đau khổ chính là nền tảng thực sự cho tâm bi (lòng trắc ẩn) của chúng ta. Nói một cách khác, nếu chỉ với bất kỳ một khía cạnh đơn lẻ nào của sự thật về khổ không thôi thì sẽ không đủ để làm nền tảng cho tâm bi.
Do đó, tâm bi của chúng ta cũng sẽ bao gồm luôn cả những người mà ở hiện tại có thể là đang hạnh phúc, nhưng lại hành động với một cái tâm xấu ác và si ám. Trong những hành động ở hiện tại của họ, chúng ta sẽ thấy trước được trạng thái đau khổ ở tương lai của họ, và tâm bi sẽ khởi sinh lên từ đó.
Tâm bi của bậc trí không khiến cho họ trở thành nạn nhân của khổ. Suy nghĩ, lời nói và hành động của họ tràn đầy lòng trắc ẩn. Nhưng trái tim của họ lại không hề dao động; nó vẫn giữ nguyên ở trong một trạng thái bình yên và tĩnh lặng. Nếu không như vậy thì làm sao họ có thể cứu giúp được?
Cầu mong cho lòng bi mẫn khởi sinh lên ở trong tâm của chúng ta! Là một sự cao quý vô lượng của trái tim và trí óc, tâm bi đó hiểu biết, thấu hiểu cũng như sẵn sàng cứu giúp.
Tâm bi là sức mạnh cũng như mang lại sức mạnh: Đó là lòng bi mẫn cao cả nhất.
Vậy thì biểu hiện cao cả nhất của tâm bi là gì?
Là để chỉ ra cho thế giới con đường dẫn đến sự đoạn diệt hoàn toàn mọi đau khổ, một con đường đã được Ngài, Đấng Thế Tôn, Đức Phật chỉ ra, bước đi và trọn vẹn hoàn thành đến cuối con đường.
III. Tâm Hỷ (muditā)
Không chỉ với tâm bi không thôi, hãy mở rộng tâm mình với cả niềm vui cùng người khác, tâm hỷ!
Thực ra, hạnh phúc và niềm vui mà chúng sinh có được thường chỉ là những điều khá bé nhỏ! Nên bất cứ khi nào có một chút hạnh phúc đến với họ, bạn hãy hoan hỉ lên vì ít ra là một tia sáng của niềm vui đã xuyên qua bóng tối cuộc đời của họ, xua tan màn sương xám xịt và tối tăm đang bao trùm lên trái tim của họ.
Cuộc sống của bạn sẽ tràn ngập niềm vui khi chia sẻ với hạnh phúc của người khác như thể đó là hạnh phúc của chính mình. Đã bao giờ bạn nhận thấy trong những khoảnh khắc hạnh phúc, nét mặt của một người lại thay đổi và trở nên rạng rỡ với niềm vui như thế nào chưa? Đã bao giờ bạn nhận thấy niềm vui khơi dậy lên những khát vọng và hành động cao thượng của một người, vượt quá khả năng bình thường của họ như thế nào chưa? Chẳng phải chính những trải nghiệm như vậy đã lấp đầy trái tim của chúng ta với một niềm hạnh phúc hân hoan hay sao? Sức mạnh để làm tăng thêm các trải nghiệm của tâm hỷ đó nằm ở ngay trong tầm tay của bạn, bằng cách tạo ra hạnh phúc cho người khác, bằng cách mang lại cho họ niềm vui và sự an ủi.
Chúng ta hãy dạy về niềm vui đích thực dành cho người khác! Rất nhiều người đã quên đi điều đó. Cuộc sống, mặc dù là tràn đầy sự đau khổ, nhưng nó cũng chứa đựng những suối nguồn của hạnh phúc và niềm vui mà hầu hết mọi người đều không biết đến. Chúng ta hãy dạy mọi người tìm kiếm và khám phá niềm vui đích thực nằm ở bên trong chính mình cũng như dạy họ hoan hỉ với niềm vui của người khác! Chúng ta hãy dạy họ cách khai mở niềm vui đến những tầm cao siêu thế hơn!
Một niềm vui cao thượng và siêu việt, tâm hỷ, là không hề xa lạ ở trong Giáo lý của Đấng Giác Ngộ. Nhưng đôi khi, Giáo lý của Đức Phật lại bị hiểu lầm là một giáo lý gieo rắc sầu bi. Hoàn toàn không phải như vậy, ngược lại Giáo pháp từng bước dẫn dắt đến một sự an lạc ngày càng thanh tịnh và cao quý hơn.
Tâm hỷ, là một trợ thủ trên con đường đoạn diệt hoàn toàn khổ đau. Không phải là người chìm đắm trong muộn phiền, mà là người có hỷ mới tìm thấy sự tĩnh lặng trong sáng, dẫn đến một trạng thái tâm thiền, quán niệm. Và chỉ với một cái tâm trong sáng và định tĩnh thì mới có thể thành tựu được trí tuệ giải thoát.
Niềm hoan hỉ của chúng ta dành cho người khác càng cao thượng và siêu việt đến đâu thì chúng ta lại càng chứng nghiệm được tâm hỷ của chính mình đến đó. Một lý do khiến chúng ta khởi lên tâm hỷ đến người khác là chúng ta biết rằng, cuộc sống cao quý của họ sẽ đảm bảo được hạnh phúc cho họ ở trong cuộc đời này và cả ở những cuộc đời kế tiếp. Một lý do thậm chí còn cao quý hơn nữa khiến chúng ta khởi lên tâm hỷ đến người khác là chúng ta thấy được đức tin của họ vào Giáo pháp, thấy được sự hiểu biết của họ về Giáo pháp, cũng như sự thực hành Giáo pháp của họ. Chúng ta hãy nỗ lực nhằm mang đến cho họ sự cứu giúp của Giáo pháp! Chúng ta hãy nỗ lực để ngày càng có khả năng hỗ trợ họ được nhiều hơn!
Tâm hỷ là một sự cao quý siêu việt của trái tim và trí óc; Nó hiểu biết, thấu hiểu và sẵn sàng để cứu giúp.
Tâm hỷ là sức mạnh cũng như mang lại sức mạnh: Đó là niềm hoan hỉ cao cả nhất.
Vậy thì biểu hiện cao cả nhất của tâm hỷ là gì?
Là để chỉ ra cho thế giới con đường dẫn đến sự đoạn diệt hoàn toàn mọi đau khổ, một con đường đã được Ngài, Đấng Thế Tôn, Đức Phật chỉ ra, bước đi và trọn vẹn hoàn thành đến cuối con đường.
IV. Tâm Xả (upekkhā)
Tâm xả là một sự cân bằng hoàn hảo, không lay chuyển của tâm, có gốc rễ từ một trí tuệ sâu sắc.
Khi xem xét thế giới xung quanh mình cũng như nhìn vào bên trong trái tim của chính mình, hẳn là chúng ta thấy rõ rằng, việc đạt được và duy trì một sự cân bằng ở trong tâm là khó khăn đến nhường nào.
Khi xem xét cuộc sống này, chúng ta sẽ nhận thấy nó cứ mãi liên tục dao động qua lại giữa những đầu trái ngược: Giữa thăng và trầm, giữa thành công và thất bại, giữa mất và được, giữa vinh quang và tội lỗi. Chúng ta cảm nhận được trái tim mình phản ứng như thế nào với tất cả những điều này: Hạnh phúc và đau khổ, vui sướng và tuyệt vọng, thất vọng và thỏa mãn, hy vọng và sợ hãi. Những con sóng cảm xúc này nâng chúng ta lên cũng như nhấn chìm chúng ta xuống; Và rồi ngay khi chúng ta vừa mới có được một chút bình yên thì một con sóng mới lại tiếp tục nhấn chìm chúng ta. Làm sao chúng ta lại có thể mong đợi đặt được chân mình lên đỉnh của những con sóng? Làm sao chúng ta có thể dựng lên toà nhà cuộc sống của mình ở giữa một đại dương luôn biến động này của sự tồn tại, nếu như không dựng nó lên ở trên một Hải đảo của sự xả ly?
Ở trong thế giới mà chúng ta đang sống, phần hạnh phúc nhỏ nhoi được ban tặng cho chúng sinh phần lớn chỉ được đảm bảo sau rất nhiều lần nếm trải và gánh chịu thất vọng, thất bại cũng như thua cuộc;
— Đó là một thế giới mà chỉ có thể với một lòng can đảm để bắt đầu lại, hết lần này đến lần khác, mới hứa hẹn thành công;
— Đó là một thế giới mà những niềm vui ít ỏi lớn lên ở giữa muôn vàn bệnh tật, chia ly và cái chết;
— Đó là một thế giới mà trong đó, những chúng sinh chỉ vừa mới kết nối với chúng ta bằng tâm hỷ, thì ngay ở khoảnh khắc kế tiếp lại cần đến tâm bi của chúng ta — một thế giới như vậy hẳn cần đến tâm xả.
Tuy nhiên, loại tâm xả cần có phải được đặt trên nền tảng của một sự sự hiện diện mang tính tỉnh giác của tâm, chứ không phải ở trong một cái tâm mê mờ vô thưởng vô phạt. Nó phải là kết quả của một quá trình tu tập chăm chỉ, có chủ đích, chứ không phải là kết quả ngẫu nhiên từ một tâm trạng xảy ra trong thoáng chốc. Nhưng tâm xả sẽ không xứng đáng với tên gọi của nó nếu nó cứ phải được tạo ra bằng nỗ lực, hết lần này đến lần khác. Ở trong một hoàn cảnh như vậy, nó chắc chắn sẽ bị suy yếu và cuối cùng sẽ bị đánh bại bởi những thăng trầm trong cuộc sống. Ngược lại, một tâm xả đích thực phải có khả năng vượt qua tất cả những thử thách khắc nghiệt này cũng như có khả năng tái tạo sức mạnh từ những nguồn lực ở bên trong. Nó sẽ sở hữu được sức mạnh kháng cự và tự tái tạo này chỉ khi nó được gieo trồng lên từ một trí tuệ sâu sắc.
Vậy thì bản chất của tuệ giác ấy là gì? Đó là sự hiểu biết rõ ràng về nguồn gốc của mọi thăng trầm trong cuộc sống cũng như sự hiểu biết rõ ràng về bản chất đích thực của chính chúng ta. Chúng ta cần phải hiểu rằng, tất cả những trải nghiệm khác nhau mà chúng ta kinh qua đều là kết quả của nghiệp (kamma) của mình, là những hành động của thân, khẩu và ý được thực hiện ở trong cuộc sống hiện tại cũng như trong những cuộc sống trước đây. Nghiệp chính là tử cung mà từ đó chúng ta được sinh ra (kamma-yoni), và dù muốn hay không, chúng ta vẫn phải làm vị “chủ nhân” không thể chuyển nhượng được cho những hành động của chính mình (kamma-ssakā). Tuy nhiên, ngay sau khi chúng ta thực hiện bất kỳ một hành động nào, quyền kiểm soát của chúng ta đối với nó sẽ bị mất đi: Trong khi đó, nó lại mãi mãi ở lại với chúng ta và chắc chắn sẽ quay trở lại với chúng ta như là tài sản thừa kế – nghiệp thừa kế (kamma-dāyādā). Không có điều gì xảy ra với chúng ta mà lại đến từ một thế giới thù địch ở “bên ngoài” và xa lạ đối với chúng ta cả; Mọi thứ đều là nghiệp quả của tâm và hành động của chính chúng ta. Sự hiểu biết này giải thoát chúng ta khỏi mọi sợ hãi, và do đó nó là nền tảng đầu tiên của tâm xả. Nếu như chúng ta gặp lại chỉ mỗi chính bản thân mình ở trong tất cả mọi điều xảy đến với chúng ta thì tại sao lại phải sợ hãi?
Tuy nhiên, nếu nỗi sợ hãi hay sự bất định khởi sinh lên, thì chúng ta biết một nơi nương tựa có thể xoa dịu được chúng: Đó chính là những hành động thiện của mình (kamma-paṭisaraṇā). Nhờ vào nơi nương tựa này mà đức tin và dũng khí sẽ tăng trưởng lên ở bên trong chúng ta: Đó là đức tin vào sức mạnh bảo vệ của những hành động thiện mà chúng ta đã làm trong quá khứ; Đó là dũng khí để thực hiện nhiều hơn nữa các hành động thiện ngay ở thời điểm hiện tại này, bất chấp những khó khăn làm nản lòng đang xảy ra trong cuộc sống hiện tại của chúng ta. Bởi vì, chúng ta biết rằng, những hành động mang tính cao thượng và vô ngã mang đến một sự bảo vệ tốt nhất trước những đòn giáng mạnh mẽ của số phận, rằng không bao giờ là quá muộn mà luôn luôn là thời điểm thích hợp để thực hiện các hành động thiện. Nếu nơi nương tựa đó, việc làm các điều thiện và tránh làm các điều ác, được thiết lập một cách vững chắc ở bên trong mình, thì đến một ngày nào đó chúng ta sẽ cảm thấy một cách chắc chắn rằng: “Những đau khổ và xấu ác có nguồn gốc trong quá khứ sẽ ngày càng ít đi. Và ở trong cuộc sống hiện tại này, tôi cố gắng làm cho nó trở nên trong sạch và thanh tịnh. Như vậy, tương lai còn có thể mang lại điều gì khác hơn ngoài sự tăng trưởng của những điều tốt đẹp?” Từ sự chắc chắn như vậy mà tâm của chúng ta sẽ trở nên bình thản, và chúng ta sẽ có được sức mạnh của sự kiên nhẫn và buông xả để chịu đựng tất cả những nghịch cảnh trong hiện tại. Và rồi, những hành động của chúng ta sẽ trở thành những người bạn của chúng ta (kamma-bandhu).
Một cách tương tự như vậy, tất cả mọi sự kiện trong cuộc đời của chúng ta, mà thực ra là kết quả từ những hành động của chính mình, cũng sẽ là những người bạn của chúng ta, ngay cả khi chúng mang đến cho ta nỗi buồn và đau khổ. Hành động của chúng ta quay trở lại với chúng ta trong một hình hài thường khiến chúng không thể được nhận ra. Đôi khi chúng quay lại ở trong cách thức mà người khác đối xử với chúng ta, đôi khi lại là một sự đảo lộn hoàn toàn trong cuộc sống của chúng; mà thường là kết quả sẽ trái ngược lại với mong đợi, trái ngược lại với ý muốn của chúng ta. Những trải nghiệm như vậy chỉ ra cho chúng ta thấy nghiệp quả không thể lường trước được từ những hành động của chính mình; Nó phơi bày ra những động lực thiếu trí tuệ của các hành động trước đây của mình, điều mà chúng ta đã cố gắng che đậy ngay cả đối với chính bản thân mình, che đậy chúng bằng đủ mọi thứ lý do. Nếu chúng ta học cách nhìn nhận sự việc từ góc độ này, cũng như nhận ra bức thông điệp được truyền tải bởi các trải nghiệm của chính mình, thì đau khổ cũng sẽ trở thành một người bạn của chúng ta. Đó hẳn sẽ là một người bạn nghiêm khắc, nhưng lại chân thành và tốt bụng, dạy cho chúng ta điều khó khăn nhất, một sự hiểu biết sâu sắc về chính mình, cũng như cảnh báo về những vực thẳm mà chúng ta đang lao vào một cách mù quáng. Bằng cách xem đau khổ như là một người thầy và cũng là một người bạn, chúng ta sẽ thành công hơn trong việc chịu đựng nó với tâm xả, với sự bình thản ở trong tâm. Do đó, Giáo lý về nghiệp sẽ cho chúng ta một động lực mạnh mẽ để giải thoát bản thân mình khỏi nghiệp, khỏi những hành động cứ liên tục quẳng chúng ta vào nỗi khốn khổ trong vòng luân hồi bất tận. Tâm ghê tởm sẽ khởi sinh lên đối với sự tham ái của chính mình, đối với sự si ám của chính mình, đối với khuynh hướng của bản thân nhằm tạo ra những tình huống làm hao mòn sức mạnh, sức kháng cự cũng như sự buông xả của chúng ta.
Tuệ giác thứ hai mà tâm xả cần đặt làm nền tảng là Giáo lý về vô ngã (anattā) của Đức Phật. Giáo lý này chỉ ra rằng, ở trong một ý nghĩa tận cùng thì các hành động không được thực hiện bởi bất cứ một cái tôi nào cả, cũng như kết quả của nó không ảnh hưởng đến bất kỳ một cái tôi nào cả. Hơn nữa, nó cho thấy rằng nếu không có bản ngã, một cái tôi, thì chúng ta cũng không thể nói về những thứ như là “của chính mình”. Chính ảo tưởng sai lầm về một cái tôi chắc thật đã tạo nên đau khổ và cản trở hoặc làm nhiễu loạn tâm xả, sự bình thản. Ví dụ như nếu phẩm chất này hay phẩm chất kia của một người nào đó bị cho là có lỗi, vị ấy sẽ nghĩ rằng: “Tôi bị đổ lỗi” và tâm xả sẽ bị lung lay. Nếu việc này hay việc kia bị thất bại, vị ấy sẽ nghĩ rằng: “Công việc của tôi đã thất bại” và như vậy tâm xả sẽ bị lung lay. Nếu mất đi tài sản hoặc người thân yêu, vị ấy sẽ nghĩ rằng: “Những gì của mình đã ra đi” và tâm xả sẽ bị lung lay.
Để thiết lập được tâm xả như là một trạng thái tâm không thể bị lay động, chúng ta cần phải buông bỏ mọi ý nghĩ mang tính chiếm hữu được gắn nhãn là “của tôi”, bắt đầu từ những thứ nhỏ nhặt mà mình có thể dễ dàng tách rời ra khỏi cái “tôi” này, rồi dần dần tiến đến những sở hữu và mục tiêu mà toàn bộ tâm dính mắc vào. Chúng ta cũng phải buông bỏ cả những ý nghĩ tương ứng với các ý nghĩ này, nghĩa là tất cả mọi ý nghĩ vị kỷ về “cái tôi”, bắt đầu từ một phần nhỏ trong tính cách của mình, những phẩm chất không quan trọng lắm, những nhược điểm nhỏ mà chúng ta thấy rõ, rồi dần dần tiến đến những cảm xúc và ác cảm mà chúng ta xem là trọng tâm cho sự tồn tại của chính mình. Do đó, sự buông bỏ này cần phải được thực hành, rèn luyện.
Khi chúng ta buông bỏ những ý nghĩ về cái “của tôi” hay cái “tôi”, tâm xả sẽ đi vào tâm mình. Bởi vì làm sao một điều gì đó mà chúng ta nhận ra là xa lạ và vô ngã lại có thể khiến cho mình xao động vì lòng tham ái, sân hận hay sầu khổ được? Do đó, Giáo lý về vô ngã sẽ là kim chỉ nam cho chúng ta trên con đường dẫn đến giải thoát, dẫn đến một sự xả ly hoàn hảo.
Tâm xả là đỉnh cao và là tột đỉnh của tứ vô lượng tâm. Tuy nhiên, tâm xả không nên được hiểu là sự phủ nhận của tâm từ, tâm bi và tâm hỷ, hoặc coi chúng là ở bên dưới, thấp kém hơn. Hoàn toàn không phải như vậy, mà tâm xả bao gồm và thấm đẫm cả tâm từ, tâm bi và tâm hỷ một cách trọn vẹn, cũng như chúng cũng thấm đẫm tâm xả một cách hoàn hảo.
Các ảnh hưởng qua lại lẫn nhau giữa bốn tâm vô lượng
Như vậy thì bốn tâm vô lượng này thấm nhuần vào nhau cũng như ảnh hưởng lẫn nhau như thế nào?
Tâm từ vô biên xứ bảo vệ tâm bi để nó không trở nên thiên vị, ngăn ngừa nó khỏi những sự phân biệt đối xử do bởi các sự chọn lọc và loại trừ xảy ra ở trong tâm, và do đó bảo vệ nó không bị rơi vào tình trạng thiên vị đối với những điều mà tâm thích thú hoặc là sân hận đối với những điều mà tâm không mong muốn.
Tâm từ truyền lại cho tâm xả lòng vị tha và bản chất vô biên xứ, và thậm chí cả sự nhiệt thành của nó. Bởi vì một khi đã được chuyển hoá và kiểm soát thì sự nhiệt thành cũng sẽ là một phần của tâm xả hoàn hảo, củng cố sức mạnh xuyên thấu sâu sắc của tâm xả cũng như sự tiết chế mang tính trí tuệ của nó.
Tâm bi ngăn không cho tâm từ và tâm hỷ quên mất rằng, cho dù cả hai đều là đang tận hưởng hoặc là đang mang lại những niềm hạnh phúc mang tính nhất thời và có chừng mực, nhưng ở ngay tại thời điểm đó vẫn còn tồn tại những trạng thái đau khổ khủng khiếp nhất trên thế gian. Nó nhắc nhở một điều rằng, niềm hạnh phúc trong tâm từ và tâm hỷ vẫn luôn song hành cùng với những nỗi khốn khổ vô biên, mà có lẽ là chúng lại đang ở sát ngay bên cạnh. Nó là một lời nhắc nhở cho tâm từ và tâm hỷ rằng, thế gian này có nhiều đau khổ hơn là những gì mà chúng có thể làm dịu đi; rằng, sau khi tác dụng của sự làm dịu đó biến mất đi thì các nỗi buồn và đau đớn chắc chắn sẽ lại xuất hiện, cho đến khi đau khổ bị nhổ bỏ hoàn toàn ở tận gốc, khi đạt đến Niết-bàn. Tâm bi không cho phép tâm từ và tâm hỷ tự khép mình bằng cách giới hạn bản thân chúng chỉ ở trong một khu vực hạn hẹp của thế giới rộng lớn này. Tâm bi ngăn cản tâm từ và tâm hỷ tự biến chúng thành trạng thái tự mãn, thỏa mãn chìm đắm ở trong một hạnh phúc nhỏ nhoi được bảo vệ bằng lòng đố kỵ. Tâm bi khơi dậy và thúc đẩy tâm từ mở rộng phạm vi của nó; nó khơi dậy và thúc đẩy tâm hỷ tìm kiếm nguồn dinh dưỡng tươi mới. Nhờ đó, nó giúp cả hai phát triển thành những tâm vô lượng đích thực (appamaññā).
Tâm bi bảo vệ tâm xả khỏi rơi vào một sự bàng quang lạnh lùng, cũng như giữ nó khỏi sự tách biệt mang tính lười biếng hoặc ích kỷ. Cho đến khi tâm xả đạt đến mức độ hoàn hảo, thì tâm bi thúc đẩy nó bước vào cuộc chiến ở trong thế giới này hết lần này đến lần khác, để có thể chịu đựng được các thử thách, bằng cách tôi luyện và củng cố bản thân nó.
Tâm hỷ giúp tâm bi không bị choáng ngợp bởi khổ cảnh của thế gian, không bị hút vào đó mà quên đi mọi thứ khác. Tâm hỷ giải tỏa các căng thẳng ở bên trong tâm, xoa dịu nỗi đau như thiêu đốt của một tấm lòng bi mẫn. Nó giữ cho tâm bi tránh xa khỏi những trầm tư u sầu vô nghĩa, khỏi những tình cảm ủy mị vô ích chỉ có tác dụng làm suy yếu và bào mòn sức mạnh của tâm trí và trái tim. Tâm hỷ phát triển tâm bi thành một sự đồng cảm thiết thực.
Tâm hỷ mang đến cho tâm xả một sự bình thản nhẹ nhàng, làm dịu đi vẻ nghiêm nghị của nó. Đó là nụ cười thiêng liêng trên khuôn mặt của Đấng Giác Ngộ, một nụ cười luôn hiện hữu bất chấp hiểu biết sâu sắc của Ngài về những nỗi khổ đau tràn ngập thế gian này, một nụ cười mang lại niềm an ủi cũng như niềm hy vọng, mang lại sự can đảm cũng như một đức tin chắc chắn rằng: “Cánh cửa giải thoát đang rộng mở”.
Tâm xả có gốc rễ từ trí tuệ là một sức mạnh mang tính dẫn dắt cũng như tiết chế ba tâm vô lượng còn lại. Nó chỉ ra hướng đi mà chúng cần phải đi, cũng như đảm bảo rằng hướng đi đó sẽ được theo đuổi. Tâm xả bảo vệ tâm từ và tâm bi khỏi bị tan biến ở trong những cuộc tìm kiếm vô ích, khỏi bị lạc lối ở trong mê cung phức tạp của các cảm xúc sinh diệt liên tục. Tâm xả, là sự tự chủ thận trọng hướng đến mục tiêu cao thượng cuối cùng, không cho phép tâm hỷ dừng lại thoả mãn với những kết quả khiêm tốn, rồi lại quên đi những mục tiêu thực sự mà chúng ta cần phải phấn đấu.
Tâm xả, nghĩa là “một cái tâm quân bình”, mang đến cho tâm từ sự kiên định và một đức tin cân bằng, không lay chuyển. Nó ban cho tâm từ đức hạnh vĩ đại của sự kiên nhẫn. Tâm xả mang đến cho tâm bi dũng khí và một lòng can đảm vững vàng, không lay chuyển, giúp nó đối mặt với vực thẳm kinh hoàng của đau khổ và tuyệt vọng, là thứ luôn thách thức tâm bi vô lượng hết lần này đến lần khác. Đối với khía cạnh mang tính thiết thực của tâm bi, tâm xả như là một bàn tay của sự bình tĩnh và vững vàng, được dẫn dắt bởi trí tuệ, là điều không thể thiếu được đối với những ai muốn rèn luyện môn nghệ thuật khó này của việc cứu giúp người khác. Và ở đây, một lần nữa, tâm xả có nghĩa là sự kiên nhẫn, sự tận tâm bền bỉ với công việc của tâm bi.
Theo cách này hay cách khác, tâm xả có thể được coi là đỉnh cao, là tột đỉnh của ba tâm vô lượng còn lại. Nếu ba tâm vô lượng đầu tiên không được kết nối với tâm xả và trí tuệ thì chúng có thể suy yếu đi, do thiếu mất yếu tố ổn định ở bên trong mình. Nếu không được hỗ trợ bởi những phẩm tính khác, để mang đến một sự vững chãi hoặc mềm dẻo cần thiết, thì các phẩm tính riêng lẻ thường sẽ bị xuống cấp thành những khiếm khuyết đặc trưng của chính nó. Ví dụ, nếu không có tinh tấn và tuệ giác, thì tâm từ có thể dễ dàng suy thoái trở thành lòng tốt mang tính uỷ mị đơn thuần của một bản tính yếu đuối và không đáng tin cậy. Hơn nữa, những phẩm tính riêng lẻ thường có thể dẫn chúng ta đi ngược lại với mục đích ban đầu và cũng trái ngược lại với lợi ích của người khác. Chính tính cách vững vàng và cân bằng của một người mới kết nối lại những phẩm tính riêng lẻ thành một tổng thể có hệ thống và hài hòa, mà trong đó những phẩm tính riêng lẻ sẽ thể hiện được những biểu hiện tốt nhất của chúng cũng như tránh được những cạm bẫy đến từ những điểm yếu tương ứng của chúng. Và đó chính là chức năng của tâm xả, là cách nó góp phần tạo nên một mối quan hệ lý tưởng giữa cả bốn tâm vô lượng.
Tâm xả là một sự cân bằng hoàn hảo, không thể lay chuyển được của tâm, có gốc rễ từ tuệ giác. Nhưng ở trong bản chất hoàn hảo và không thể lay chuyển của nó, tâm xả không hề là tẻ nhạt, vô cảm và lạnh lùng. Sự hoàn hảo của nó không đến từ “sự trống rỗng” về mặt cảm xúc, mà là đến từ “sự viên mãn” của hiểu biết, đến từ sự trọn vẹn của chính nó. Bản chất không thể lay chuyển được của nó không phải là một sự bất động của một tảng đá lạnh lẽo, chết chóc, mà là biểu hiện của một sức mạnh cao cả nhất.
Vậy thì, tâm xả là hoàn hảo và không thể lay chuyển được bằng cách nào?
Bất cứ điều gì gây ra sự đình trệ trong sinh hoạt tâm linh đều sẽ bị phá hủy, những gì ngăn cản đều sẽ bị loại bỏ, những gì làm bế tắc đều sẽ bị phá hủy. Những cơn lốc của cảm xúc cũng như sự những ngoằn nghèo trong trí óc đều biến mất. Một dòng chảy định tĩnh và uy nghi của nhận thức, của thanh tịnh và của sự giác ngộ sẽ tuôn chảy mà không hề bị cản trở. Chánh niệm (sati) đã hoà quyện sự ấm áp của đức tin – tín (saddhā) với sự sắc bén xuyên thấu của trí tuệ – tuệ (paññā); nó đã cân bằng sức mạnh của ý chí – tấn (viriya) với sự định tĩnh của tâm – định (samādhi); và rồi năm năng lực tinh thần ở bên trong này của tâm – ngũ căn (indriya) phát triển trở thành ngũ lực (bala), là những sức mạnh nội tại không thể bị đánh mất nữa, những sức mạnh có khả năng loại bỏ chướng ngại và không bị lung lay bởi tà kiến. Không thể mất đi là bởi vì chúng không còn bị lạc lối ở trong mê cung của vòng luân hồi đau khổ (saṃsāra), ở trong sự lan tỏa vô tận của cuộc sống (papañca) này nữa. Những sức mạnh nội tại này phát xuất từ tâm và hoạt động thuận theo thế gian. Tuy nhiên, nhờ được canh chừng bởi chánh niệm, chúng không trói buộc bản thân mình vào bất cứ một nơi nào, và trở về một cách nguyên vẹn. Tâm từ, tâm bi, tâm hỷ tiếp tục phát xuất từ tâm và hoạt động thuận theo thế gian. Tuy nhiên, do được tâm xả canh chừng, chúng không dính mắc vào bất cứ một nơi nào, và trở về nguyên vẹn, không suy yếu cũng như không bị vấy bẩn.
Như vậy, ở bên trong một vị Thánh A-la-hán, Đấng Giải Thoát, không có gì sẽ bị mất đi khi Ngài bố thí, cho đi, và Ngài cũng không hề nghèo hơn đi, khi ban phát cho chúng sinh sự giàu có ở trong tâm trí và trái tim của mình. Vị Thánh A-la-hán giống như một viên pha lê trong suốt, được cắt gọt khéo léo, không tì vết, hấp thụ trọn vẹn tất cả các tia sáng và rồi phát ra trở lại, còn được tăng cường thêm với sức mạnh tập trung của pha lê. Các tia sáng không thể làm vấy bẩn viên pha lê bằng các màu sắc khác nhau của chúng. Chúng cũng không thể chọc thủng xuyên qua độ cứng của viên pha lê, cũng như không thể làm xáo trộn cấu trúc hài hòa của nó. Ở trong sự tinh khiết và sức mạnh đích thực của mình, viên pha lê không hề thay đổi. “Cũng giống như vậy, mặc dù tất cả các dòng suối trên thế gian này đều đổ về đại dương, cộng với tất cả nước ở trên trời cũng đổ mưa về đó, nhưng đại dương bao la thì lại không hề tăng lên hay giảm đi” — Đó chính là bản chất của một tâm xả thánh thiện.
Tâm xả thánh thiện, hoặc cũng có thể diễn đạt là thánh quả A-la-hán sở hữu một tâm xả thánh thiện, là trung tâm ở bên trong của thế gian. Tuy nhiên, cái trung tâm ở bên trong này cần được phân biệt một cách rõ ràng với vô số các trung tâm bề ngoài của các cõi hữu hạn; ví như những thứ được gọi là “nhân cách”, các quy luật chi phối,… Tất cả những thứ này chỉ là trung tâm bề ngoài, bởi vì chúng sẽ không còn là trung tâm bất cứ khi nào cõi giới của chúng, tuân theo các quy luật vô thường, trải qua một sự thay đổi hoàn toàn về mặt cấu trúc; và do đó, trung tâm lực hút của chúng, về mặt vật chất hoặc tinh thần, sẽ dịch chuyển. Tuy nhiên, trung tâm ở bên trong của tâm xả A-la-hán lại là thứ không thể lay chuyển được, bởi vì nó bất biến. Nó bất biến là bởi vì nó không dính mắc vào bất cứ một điều gì.
Đức Phật đã dạy như sau: “Cái gì có dính mắc, cái ấy có dao động. Cái gì không dính mắc, cái ấy không dao động. Không có dao động thì có khinh an. Có khinh an thì không có thiên về. Không có thiên về thì không có đến và đi; không có đến và đi thì không có diệt và sanh; không có diệt và sanh thì không có đời này, không có đời sau, không có đời ở giữa. Ðây là sự đoạn tận khổ đau.” — Kinh Phật tự thuyết, 8:3
Phần trước | Mục lục | Phần kế
Viet Hung | A Happiness pursuer | Author of The Happiness Journal, Tản mạn về Hạnh phúc and NGẪM CAFÉ
Sách tôi dịch: Tầm nhìn của Pháp, Trái tim thiền Phật giáo, Thiền cho người mới bắt đầu, Nổi loạn và tự do, Bài chú giải Kinh Mangala Sutta, Sức mạnh của sự hoài nghi và thiền chánh niệm (Vipassana), Những nguyên lý để sống hạnh phúc, Chúng ta đang sống vì điều gì?, Sự cho đi và Tình thương yêu, “Lấy tâm mình làm bạn của chính mình”, Cảm xúc, Thiền với sự hình dung, Căng thẳng, Bản chất cao thượng, Hãy nương tựa vào chính mình, Khuôn mặt vĩ đại trên núi đá, Năm chướng ngại phát triển tâm linh và cách chinh phục
Get your source of inspiration and motivation toward reaching happiness here: https://www.viethungnguyen.com
3 thoughts on “[TNCP] Tứ vô lượng tâm”