Nghe trên Youtube
Nghe trên Soundcloud
Nghe trên Spotify
Giới thiệu
Mong muốn được tự do thoát khỏi mọi đau khổ của tất cả chúng sinh cũng chính là nguồn gốc của tôn giáo. Nếu không có đau khổ thì cũng sẽ không có tôn giáo. Suy cho cùng, mục đích cuối cùng của tôn giáo chẳng có gì khác hơn ngoài việc giải thoát khỏi đau khổ, dù rằng, tất nhiên là đau khổ thì lại được hiểu khá khác nhau, tùy thuộc vào tầng mức phát triển tâm linh của cụ thể từng cá nhân. Phạm vi và sự đa dạng của đau khổ trên thế giới này là vô cùng rộng lớn, và thật khó khăn vô cùng để giải thoát bản thân khỏi vòng tay sắt đá của nó, thứ dường như luôn giữ chặt chúng ta, không để cho chúng ta có cơ hội thoát đi được. Sau khi đấu tranh một cách vô ích tìm cách thoát khỏi đau khổ, nhiều người đã nghi ngờ luôn cả khả năng được giải thoát. Tuy nhiên, niềm hy vọng và sự an ủi là những thứ thiết yếu trong việc nuôi dưỡng loài người. Và đó là lý do tại sao, ngay cả ngày nay, một tỷ lệ lớn nhân loại lại hài lòng với lời hứa hẹn của các tôn giáo hữu thần rằng, tín đồ sẽ được giải thoát khỏi đau khổ, không phải ở trên trái đất này, mà là ở “thế giới đời sau”.
Tuy nhiên, số người không còn hài lòng với niềm tin này đang ngày càng gia tăng. Đó là những người sẽ không và cũng không thể trì hoãn bằng những lời hứa về một thế giới tiếp theo. Ngày nay, Phật pháp chính là để dành cho họ, những con người đang nghi ngờ và đang tìm kiếm này, cũng như dành cho bất kỳ ai sẵn lòng lắng nghe. Phật pháp đến với chúng ta như là một “tin tốt lành” thực sự, với lời tuyên bố rằng: “Có sự giải thoát và nó đã được tìm thấy! Nó có thể được kinh nghiệm và thành tựu được trong cuộc đời này cũng như trong thế giới này!” Chắc chắn rằng, con đường dẫn đến giải thoát khỏi đau khổ là một con đường dài và gian nan, nhưng nó giản dị, được trình bày một cách rõ ràng, và mọi người đều có thể đi trên con đường đó bằng nỗ lực của chính mình. Một trong những lợi thế của con đường này là nó đưa ra một phương pháp rèn luyện, một pháp hành, và một sự tiến triển dần dần, từng bước một. Và ngay cả những người không có một sức mạnh tâm linh đáng kể cũng có thể bắt đầu đặt những bước chân đầu tiên trên con đường này.
Liệu có điều gì có thể khẩn cấp hơn, cần được biết đến hơn là con đường đưa đến giải thoát đau khổ không nhỉ? Có điều gì cần phải làm mà lại có thể khẩn cấp hơn là theo đuổi con đường này không? Nếu ngôi nhà của bạn đang bị cháy, chẳng phải là bất kỳ một suy nghĩ hay hành động nào cũng sẽ là ngu ngốc, nếu nó không phục vụ cho mục đích thoát khỏi ngọn lửa đang nhấn chìm hay sao? Đó là lý do Đức Phật đã dạy rằng: “Đây là tất cả những gì ta dạy các con, bây giờ cũng như trong quá khứ: Đó là khổ và sự đoạn diệt của khổ.”
Trong lời phát biểu ngắn gọn này, chúng ta thực sự có được bản chất của toàn bộ giáo lý của Đức Phật. Sự khớp nối của hai phần này cũng được tìm thấy trong bốn sự thật cao thượng — Tứ Diệu Đế, được Đức Phật tuyên bố vào 2500 năm trước và vẫn còn nguyên giá trị đúng đắn sau 2500 năm, cụ thể là các sự thật cao thượng sau: (i) Sự thật cao thượng về khổ, (ii) Sự thật cao thượng về nguồn gốc của khổ, (iii) Sự thật cao thượng về sự đoạn diệt của khổ, và (iv) Sự thật cao thượng về con đường dẫn đến sự đoạn diệt của khổ.
Sự thật cao thượng thứ nhất và thứ hai liên quan đến khổ, sự thật cao thượng thứ ba và thứ tư liên quan đến sự đoạn diệt của khổ. Tứ Diệu Đế được phát biểu một cách rõ ràng như sau:
I. Đây là sự thật cao thượng về khổ: Sinh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ; phiền muộn, than thở, đau đớn, ưu sầu và tuyệt vọng là khổ; có điều mình không thích là khổ; bị tách rời khỏi những gì mình thích là khổ; không đạt được điều mình mong muốn là khổ; Tóm lại, năm uẩn liên quan đến sự dính mắc là khổ.
II. Đây là sự thật cao thượng về nguồn gốc của khổ: Chính tham ái đưa đến sự tái sinh mới, và do bị trói buộc bởi lạc thú và dục vọng, nó lại luôn luôn tìm thấy lạc thú mới mẻ, thoắt ở đây, thoắt lại ở kia, nghĩa là: Tham ái các dục lạc, tham ái được tồn tại vĩnh cửu, tham ái tự hủy hoại bản thân mình.
III. Đây là sự thật cao thượng về sự đoạn diệt của khổ: Đó là sự tiêu diệt một cách trọn vẹn và hoàn toàn tham ái, sự tan rã của nó, sự bỏ rơi và từ bỏ nó, sự giải thoát và tách rời khỏi nó.
IV. Đây là sự thật cao thượng về con đường dẫn đến sự đoạn diệt của khổ: Đó là Bát Chánh Đạo, bao gồm: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định.
I. Sự thật cao thượng về khổ
Khổ bao gồm cả sự khổ trên thân cũng như ở trong tâm. Cái khổ trên thân chủ yếu bao gồm những “vấn đề hết sức cơ bản”: Tuổi già, bệnh tật và cái chết. Chúng là những người bạn đồng hành chung thuỷ và gắn bó không rời với cuộc sống của một con người. Cho dù một cuộc sống có tràn đầy niềm vui và lạc thú đến đâu chăng nữa thì nó cũng sẽ luôn kết thúc bằng tuổi già, bệnh tật và cái chết. Và ngay cả sự sinh cũng bao hàm luôn khổ đau. Không phải chỉ bởi vì sự đau đớn của người mẹ khi sinh nở, hay bởi vì đứa trẻ đến với thế giới này rõ ràng là với nhiều lo lắng, mà bởi vì ở trên tất cả những điều đó, sự ra đời là điều kiện tiên quyết cũng như là điều kiện cho cho sự già, bệnh tật và cái chết, nghĩa là cho toàn bộ chuỗi đau khổ. Như vậy, bất cứ điều gì có kết quả là đau khổ đều phải được xem là khổ.
Cái khổ ở trong tâm bao gồm: Phiền muộn, than thở, ưu sầu và tuyệt vọng; bị trói buộc với những gì mình không thích hoặc bị tách rời khỏi những gì mình thích; không có được điều mình mong muốn. Cái khổ ở trong tâm biểu hiện theo nhiều cách khác nhau và ở những mức độ khác nhau đối với mọi loại vấn đề, nhưng nó vẫn luôn luôn là khổ, ngay cả trong những hình thức tế nhị và cao quý nhất của nó.
Tuy nhiên, chẳng phải tất cả những đau khổ ở trên chỉ là một mặt của cuộc sống thôi sao, mặt tối tăm của nó? Chắc chắn rằng, cuộc sống cũng có niềm vui và hạnh phúc, có phải như vậy không nhỉ? Tất nhiên là có rồi. Đức Phật đã không bỏ qua sự kiện đơn giản này trong trải nghiệm cuộc sống. Nhưng Ngài cũng thấy rằng, mọi niềm vui, lạc thú và hạnh phúc đều là ngắn ngủi, thay đổi, cũng như chóng tàn. “Và bất cứ điều gì là ngắn ngủi và chóng tàn, là đối tượng bị thay đổi, cũng đều là khổ,” nghĩa là bất toại nguyện và không thỏa đáng. Điều này là đúng, không chỉ với các cảm giác và cảm nhận không thôi, mà nó còn đúng với toàn bộ cái được gọi là con người của chúng ta. Trên thực tế, điều mà chúng ta gọi là “con người” là cái gì nhỉ? Nếu xem xét một cách kỹ lưỡng hơn, chúng ta sẽ thấy rằng nó được trọn vẹn chia nhỏ thành “năm uẩn liên quan đến sự dính mắc”, như được đề cập trong sự thật cao thượng thứ nhất. Chúng bao gồm: (1) Sắc uẩn, thân, hay hình thức vật chất; (2) Thọ uẩn, cảm giác; (3) Tưởng uẩn, sự nhận biết; (4) Hành uẩn, bao gồm tất cả các chủ tâm trước khi một hành động được hình thành (nghĩa là các cảm xúc và ý muốn, các tiến trình suy nghĩ và tất cả các tiến trình khác không thuộc bất kỳ một nhóm nào khác); (5) Thức uẩn, sự nhận thức.
Năm nhóm này không phải là những thứ độc lập, được phân biệt rõ rệt, mà đúng hơn là các tên gọi cho những biểu hiện khác nhau của tiến trình thân và tâm xảy ra trong sự tồn tại của cái thường được mô tả là cái “tôi” hoặc “con người”. Bây giờ, dưới ánh sáng phân loại của năm uẩn này, nếu chúng ta xem xét cái “tôi” của mình, được cho là bất biến và được tạo hoá ban cho bản sắc riêng của chính nó, thì những gì chúng ta thấy trong mỗi nhóm chỉ là những sự thay đổi liên tục, những sự khởi sinh và đoạn diệt không ngừng, sinh và tử liên tục. Tất cả các tiến trình trong năm nhóm này đều là vô thường, mà không có một ngoại lệ nào. Bất cứ điều gì là vô thường thì đều được gắn chặt không rời với đau khổ. Điều này có nghĩa là, hoặc là nó được trải nghiệm trực tiếp như là đau khổ (ví dụ như trong trường hợp những đau đớn trên thân hoặc trong tâm) hoặc là nó bị đặt vào tình thế và phải chịu đau khổ vì tính chất vô thường vốn có của mọi hạnh phúc và niềm vui.
Đối với bất cứ thứ gì là vô thường và khổ, bạn không thể phát biểu rằng: “Cái này là tôi, cái này thuộc về tôi, cái này là tự ngã của tôi”. Và do bởi mọi sự tồn tại hoàn toàn được tạo nên từ năm uẩn đó, cũng như do bởi chúng ta không thể tìm thấy ở đâu trong phạm vi của các tiến trình thân và tâm này bất cứ một điều gì có thể được mô tả như là cái “tôi” hoặc như là một con người, nên mọi sự tồn tại đều là “vô ngã”, nghĩa là không hề mang tính cá nhân. Không có một cốt lõi thực chất mang tính thường hằng nào, không có một “linh hồn” nào, cho dù là tạm thời hay vĩnh cửu, có thể được tìm thấy ở đó cả. Ngay cả một trạng thái tâm cao quý nhất cũng không phải là ngoại lệ; bởi vì ngay cả cái tâm đó cũng được điều kiện hoá bởi các tiến trình thân và tâm trong năm uẩn, và do đó, nó là vô thường. “Tôi” và “con người” chỉ là những tên gọi quy ước thuần tuý dành cho sự kết hợp tạm thời của năm uẩn này, cho những tiến trình thân và tâm liên tục thay đổi trong sự hiện hữu và tồn tại của nó.
Do đó, mọi sự tồn tại đều mang ba đặc tính sau: Vô thường (anicca), khổ (dukkha), và vô ngã (anattā).
Đây là ba đặc điểm hay ba dấu hiệu phân biệt mọi sự tồn tại của sự vật và hiện tượng. Đặc tính thứ ba, sự không tồn tại của một con người hay một cái ngã thường hằng là mấu chốt đặc biệt của toàn bộ giáo lý Phật giáo. Đặc tính vô ngã này phân biệt Phật giáo với mọi tôn giáo hoặc hệ thống triết học khác, trong đó tất cả đều duy trì một loại niềm tin nhất định vào một thực thể gọi là “tôi”, vào một linh hồn cá nhân hoặc vào một linh hồn chung của cả thế giới, bằng cách này hay cách khác. Một trí tuệ sâu sắc về chân lý vô ngã là thành tựu nhận thức vĩ đại và độc đáo của Đức Phật. Chỉ khi hiểu được giáo lý về “vô ngã” này thì người ta mới có thể hiểu được những lời dạy của Đức Phật – Giáo pháp. Tầm quan trọng và ý nghĩa của sự thật cao thượng về khổ cũng chỉ có thể được nắm bắt một cách trọn vẹn thông qua sự hiểu biết đúng đắn về “vô ngã”. Bây giờ, chúng ta hãy ngắn gọn tóm tắt lại sự thật cao thượng đầu tiên này.
Năm uẩn của sự tồn tại liên quan đến sự dính mắc, mà theo thuật ngữ thông thường (phi-Phật giáo) chúng được gọi là “tôi” và “thế giới”, đều phải chịu đau khổ, có khiếm khuyết và bất toại nguyện. Theo ý nghĩa đầy đủ nhất của nó thì từ bất toại nguyện có nghĩa là: Nếu một người nhìn xuyên thấu được bản chất của mọi việc và nhận ra tính chất vô ngã của chúng, vị ấy sẽ không thể tìm thấy sự thỏa mãn, bình yên hay hài lòng ở nơi chúng.
Tuy nhiên, chính sự thật về đặc tính không ngừng thay đổi và đặc tính vô ngã của sự tồn tại khiến cho việc giải thoát khỏi đau khổ là điều có thể xảy ra. Nếu có bất kỳ một cốt lõi thường hằng nào của tự ngã, nằm ở bên trong hoặc “núp” bóng bên dưới cái gọi là con người, thì sự giải thoát sẽ là không thể xảy ra.
II. Sự thật cao thượng về nguồn gốc của khổ
Năm uẩn của sự mọi sự tồn tại như đã được đề cập ở trên là các uẩn của dính mắc. Chúng được gọi như vậy là bởi vì con người vô minh, thiếu hiểu biết cứ bám dính vào chúng. Điều này đưa chúng ta đến sự thật cao thượng thứ hai: Tham ái là nguồn gốc của khổ (từ Pāli của tham ái là taṇhā, “sự khát”, nghĩa là khao khát sự tồn tại). Sự bám víu hay dính mắc là biểu hiện của tham ái. Một con người vô minh, thiếu hiểu biết luôn dính mắc vào năm uẩn cũng như khao khát chúng. Bởi vì, vị ấy tin rằng chúng là cái “tôi” của mình, cái tôi của vị ấy. Và cũng bởi vì năm uẩn này cho phép vị ấy tiếp cận với những lạc thú của thế giới đang xuất hiện một cách đáng thèm muốn ở ngay trước mặt của vị ấy.
Chúng ta phải hiểu điều này như thế nào đây nhỉ? Đau khổ là kết quả của tham ái? Ví dụ sau có thể minh hoạ điều này một cách rõ ràng. Khi có một món đồ chơi yêu thích bị vỡ, một đứa trẻ chắc chắn sẽ khó chịu và khóc. Nhưng liệu một con người trưởng thành có hành xử tương tự như vậy không? Rõ ràng là không. Và tại sao lại không? Bởi vì người lớn thì không còn thích thú, không còn thèm khát những món đồ chơi trẻ con nữa. Do đó, họ sẽ không cảm thấy buồn phiền hoặc đau khổ khi nó bị vỡ. Như vậy chúng ta có thể thấy rằng, chính sự thích thú, sự thèm khát sở hữu một cái gì đó mới là nguyên nhân thực sự của đau khổ, chứ không phải là sự kiện “bị vỡ” xảy ra ở ngoài kia. Chúng ta tham muốn một điều gì đó vì chúng ta cho rằng, nó là dễ chịu. Bởi vì chúng ta không thấy được cái khổ vốn dĩ gắn liền với sự dễ chịu đó, cũng như không muốn nghĩ đến sự vô thường của nó. Chúng ta tham muốn bởi vì chúng ta tin rằng năm uẩn của mọi sự tồn tại là một cái “tôi”, là một “bản ngã”, là niềm vui và sự thích thú, trong khi thực ra chúng là vô thường và gắn liền với khổ. Chúng ta mong muốn cái “tôi” này sở hữu đủ mọi thứ mà bản thân chúng là vô thường, ngập tràn đau khổ và mong manh như sự tưởng tượng của chính người muốn sở hữu chúng. Và chúng ta cũng lo sợ cho cái “tôi” này, chúng ta sợ tuổi già, bệnh tật và cái chết: Chúng ta sợ hãi những thứ mà chúng ta không thể tránh khỏi được.
Tham ái là kẻ sáng tạo ra thế giới này. Toàn bộ thế giới này chẳng là gì khác ngoài sự tham ái ở dạng hữu hình, là hình thức hiện thân, là thể hiện của mong muốn tồn tại. Các giác quan của chúng ta chính là các phương tiện và công cụ để làm thỏa mãn sự tham ái này (và do đó, bản thân chúng cũng lại là đối tượng của tham ái). Hơn thế nữa, kể cả nếu các phương tiện này, các công cụ này bị mất đi thì tham ái lại không mất đi cùng với chúng. Một người đã bị mất đi thị lực vẫn có mong muốn nhìn thấy. Cũng tương tự như gỗ không bị phá huỷ bởi ngọn lửa mà thay vào đó chỉ là biến thành tro, nước không bị phá huỷ bởi nhiệt năng mà thay vào đó là biến thành hơi nước, tham ái sẽ không bị đoạn diệt khi cái thân hiện tại này phân rã. Khi cái “công cụ” này, cái thân xác hiện tại này bị “bào mòn” theo quy luật vô thường, tham ái sẽ tìm kiếm một cơ thể mới có thân và tâm, để lại có thể bám vào thế giới các đối tượng của sáu giác quan này một lần nữa. Trò chơi của tham ái, của chiếm hữu và của sự cố gắng bám víu vào một thế giới vô thường (bao gồm luôn cả cái gọi là “tôi”) cứ liên tục diễn ra, chỉ lại để tiếp tục diễn tấn trò rượt đuổi vô ích thêm một lần nữa. Vòng luân hồi sinh tử đáng sợ này cũng như sự tái sinh này vẫn cứ tiếp diễn, chừng nào tham ái còn chưa được dập tắt hoàn toàn bằng cách đi theo con đường giải thoát đã được Đức Phật chỉ dạy. Đây là giáo lý về sự tái sinh của Phật giáo.
Ở đây, chúng ta không nên nhầm lẫn quan niệm về tái sinh này của Phật giáo với giáo lý “chuyển sinh” của đạo Hindu. Theo Phật pháp thì không có một thực thể linh hồn thường hằng, bất biến nào lang thang từ cuộc sống này sang cuộc sống khác. Mà như được trình bày ở sự thật cao thượng về khổ, quan điểm đúng đắn là tất cả các yếu tố tâm trí hoặc tinh thần của cái được gọi là con người đều là vô thường cả. Tham ái cũng như vậy. Bản thân nó không phải là một thực thể riêng biệt mà nó khởi sinh liên tục, tuỳ theo các điều kiện xảy ra trước đó. Chúng ta có thể minh họa quá trình tái sinh này bằng một ví dụ cổ xưa. Nếu sử dụng một ngọn nến đang cháy để thắp một ngọn nến khác, thì chắc chắn rằng ngọn lửa của ngọn nến sau không thể nào giống với ngọn lửa của ngọn nến trước được. Bạn cũng không thể phát biểu rằng ngọn lửa từ ngọn nến đầu tiên đã chuyển sang ngọn nến thứ hai. Tuy nhiên, hai ngọn lửa đó cũng không hoàn toàn độc lập với nhau: Ngọn lửa thứ hai đã không tự nó phát sinh một cách độc lập với ngọn lửa thứ nhất, mà là do bởi ngọn lửa thứ nhất. Nghĩa là, ngọn lửa thứ nhất tạo điều kiện cho ngọn lửa thứ hai khởi sinh. Một mối quan hệ tương tự như vậy cũng xảy ra giữa hai sự tồn tại kế tiếp nhau: Chúng phụ thuộc vào nhau và được liên kết với nhau bởi dòng bởi dòng chảy đầy uy lực của tham ái.
Chúng ta vừa mới thảo luận ngắn gọn về sự kiện tái sinh và lý do nó xảy ra. Kiểu tái sinh như thế nào, nghĩa là nó xảy ra ở đâu và trong hoàn cảnh nào, sẽ được xác định bởi kamma — nghiệp, nghĩa là bởi những hành động trước đó của một chúng sinh. Từ “kamma” được biết đến nhiều hơn ở phương Tây dưới dạng tiếng Phạn (Sanskrit), là “karma”. Nó rất thường xuyên bị hiểu sai như là một loại số phận bị chi phối bởi các tác nhân ở bên ngoài mà con người ta không thể tránh khỏi được. Tuy nhiên, điều này chẳng phải là sự thật của những gì đang xảy ra. Nghiệp có nghĩa đen là hành động, và không có gì khác hơn là hành động. Hành động bao gồm ba loại: Thân, khẩu và ý. Chính hành động của chúng ta tạo nên điều kiện cho cuộc sống hiện tại này cũng như sự tái sinh trong tương lai của chúng ta. “Gieo giống nào thì gặt quả đó.” “Bất cứ điều gì chúng ta làm, nó sẽ quay trở lại.” Người có những hành động thấp hèn, đê tiện sẽ bị thu hút bởi chính sự thấp hèn, đê tiện, và vào giây phút của cái chết, họ sẽ nắm lấy khởi đầu của sự tồn tại mới ở một thế giới thấp kém hơn. Người sống một cuộc đời có phẩm giá và nuôi dưỡng những suy nghĩ cao thượng sẽ hướng tới sự cao quý và sẽ tái sinh vào một thế giới cao quý, thanh tịnh hơn. Giáo lý về nghiệp đại diện cho quy luật công bằng của vạn vật trong thế giới này. Chỉ có nghiệp mới có thể giải thích một cách thỏa đáng những bất công rành rành xảy ra trong cuộc sống, mà một ví dụ cụ thể là, người tốt thường phải chịu đau khổ trong khi những kẻ vô dụng lại được hưởng may mắn. Trong cả hai trường hợp, nó chỉ đơn thuần là kết quả của những hành động trước đó mà thôi.
Một hành động bất thiện được gieo trồng ở hiện tại,
Cũng giống như sữa tươi, không vón cục lại ngay,
Mà âm ỉ, nó đi theo người si ám
Như đốm lửa ẩn dưới đống tro tàn.
Ngay cả kẻ làm ác cũng được hưởng phước lành.
Miễn là hành động xấu ác của vị ấy chưa chín muồi.
Nhưng một khi ác nghiệp đã chín muồi,
Thiệt hại nặng nề là những gì họ phải hứng chịu.
Ngay cả người tốt cũng gặp phải điều tồi tệ.
Chừng nào việc thiện của vị ấy chưa chín muồi.
Nhưng khi việc thiện đã chín muồi,
Phước lành hẳn là những gì vị ấy hưởng.
Vậy thì điều gì là thiện và điều gì là bất thiện? Đây là một câu hỏi muôn thưở của nhân loại và Phật pháp có một câu trả lời rõ ràng cho câu hỏi này. Điều xấu ác, nghĩa là bất thiện trên phương diện nghiệp, là bất cứ điều gì nuôi dưỡng tham ái, sự khao khát tồn tại, và gắn liền với nó là ảo tưởng về một cái “tôi” cũng như sự dính mắc vào nó, dẫn đến sự tái sinh tiếp theo vào những hoàn cảnh tồi tệ hơn, và do đó lại làm tăng trưởng thêm sự khổ đau. Điều tốt đẹp, nghĩa là thiện trên phương diện nghiệp, là tất cả những gì làm suy yếu và cuối cùng là loại bỏ tham ái cũng như ảo tưởng về cái “tôi” này.
Ba “gốc rễ của điều xấu ác”, nghĩa là các hành động bất thiện bao gồm: Tham, sân, và si ở trong mọi cấp độ của chúng.
Ba “gốc rễ của điều thiện”, của các hành động thiện bao gồm:
- Vô tham = Sự từ bỏ, sự buông bỏ, không tham dục, sự xả bỏ, sự thanh tịnh;
- Vô sân = Rộng lượng, sự tha thứ, lòng từ ái, lòng bi mẫn;
- Vô si = Chánh niệm, tri thức, sự hiểu biết, trí tuệ.
Nghiệp, hành động của chúng ta, vừa đóng vai trò là nhà đạo diễn và cũng vừa là vị quan toà phán xét cuộc đời của chúng ta: Nó đưa ra chỉ thị và cũng bao gồm luôn cả sự phán xét. Nghiệp là quy luật về nguyên nhân của sự tồn tại và tái sinh, áp dụng cho mọi thực tại chứ không chỉ cho riêng thế giới vật chất. Tuy nhiên, mỗi một hành động (nghiệp) sẽ tạo ra kết quả đầy đủ không thể tránh khỏi của nó, chỉ khi nó không được bù lại hoặc không được làm giảm nhẹ bớt bởi một hành động đối kháng có sức mạnh tương đương. Do bởi các hành động đối kháng hoặc bù lại này có khả năng xảy ra tại bất kỳ một thời điểm nào, nên sự giải thoát và tự do là hoàn toàn có thể đạt được. Trách nhiệm của chúng ta là biến các khả năng này thành hiện thực.
Sự thật cao thượng thứ hai có thể được phát biểu một cách ngắn gọn như sau: Khổ không phải là một “số mệnh vĩnh viễn”, mà được khởi sinh do bởi những điều kiện nhất định, và vì thế cuối cùng nó có thể được đoạn diệt. Hơn nữa, khổ không khởi sinh do tác động của bất cứ điều gì ở “bên ngoài” chúng ta, những thứ mà chúng ta không thể có tác động lên được. Ngược lại, khổ được khởi sinh ở chính bên trong chúng ta, ở trong tham ái, trong khao khát tồn tại của chúng ta, ở trong ảo tưởng của chúng ta về một cái “tôi”.
III. Sự thật cao thượng về sự đoạn diệt của khổ
Dập tắt tham ái,
Và làm dịu lắng cơn khát mong muốn tồn tại,
Rồi tham, sân và si sẽ hoàn toàn bị tiêu diệt
Đi cùng với nó là sự giải thoát khỏi tái sinh trong tương lai,
Đó là sự giải thoát khỏi đau khổ —
Đó là mục tiêu cao nhất, đó là Niết-bàn.
Chỉ có thể bằng cách mô tả những gì không phải là Niết-bàn, thì chúng ta mới có thể thực sự mô tả được về Niết-bàn, mục tiêu cao nhất. Bởi vì ngôn ngữ có giới hạn của nó và không thể đạt đến tầm mức để có thể mô tả về Niết-bàn. Ngôn ngữ, lời nói chỉ có thể diễn đạt thế giới của chúng ta, bao gồm năm uẩn của sự tồn tại mà bản thân chính nó cũng là một phần ở trong đó:
Bậc Toàn Thiện vượt thoát khỏi thước đo và khái niệm về sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Ngài sâu thẳm, vô lượng, như đại dương, không thể dò được tới đáy.
Khi một người đã có lúc thực sự trải nghiệm được một sự bình yên ở bên trong tâm mình, tận hưởng được một “sự hài lòng ở trong tâm” như thường được mô tả, vị ấy có thể có được một ý niệm lờ mờ về hương vị của Niết-bàn. Niết-bàn không thể được mô tả bằng những thuật ngữ xác thực một cách tuyệt đối, nhưng nó lại có thể được kinh nghiệm và được hiện thực hoá ở ngay tại đây, ngay bây giờ, trong cuộc sống này. Nó được gọi là “Niết-bàn hữu hình”.
Đó là khi những vị đã thành tựu được thánh quả rõ biết rằng: “‘Trước ta có tham, tham ấy là bất thiện. Nay ta không có nữa. Như vậy là thiện. Trước ta có sân, sân ấy là bất thiện. Nay ta không có nữa. Như vậy là thiện. Trước ta có si, si ấy là bất thiện. Nay ta không có nữa. Như vậy là thiện’. Như vậy, ngay trong đời sống hiện tại, vị ấy được giải thoát khỏi hy cầu, được tịch tịnh, được thanh lương, cảm thấy an lạc, tự mình an trú trong Phạm tánh” — Tăng Chi Bộ Kinh 3:66
Ngọn lửa cuộc đời của vị ấy sẽ cháy một cách bình yên cho đến giây phút cuối cùng. Sau khi cái thân thể cuối cùng này chết đi, vị thánh ấy sẽ biến mất khỏi thế giới của chúng ta. Sẽ không có thêm một sự tái sinh nào nữa. Sự bám chấp vào năm uẩn đã chấm dứt. Tuy nhiên, sẽ là không đúng đắn nếu gọi sự biến mất này là “sự hủy diệt”. Những gì chưa bao giờ tồn tại theo đúng nghĩa của nó thì không thể nói là đã bị huỷ diệt. Những tiến trình tái sinh khởi lên chỉ để biến mất, theo sau là khoảnh khắc của sự kết thúc cuối cùng đi kèm với sự chấm dứt nguyên nhân của chúng, tham ái. “Mọi đau khổ sẽ được chấm dứt, khi mọi tham ái chấm dứt”. Tuy nhiên, cũng sẽ là không chính xác, nếu mô tả Niết-bàn như là một “chúng sinh vĩnh cửu”, cho dù Niết-bàn được xem là một trạng thái tâm linh mãi mãi cao thượng. Mọi thứ liên quan đến tinh thần, tâm trí và ý thức, ngay cả trong những hình thức tinh tế nhất, vô hình, không mang tính nhục dục và thánh thiện nhất, thì chúng vẫn nằm trong năm uẩn của sự tồn tại và do đó không thể thuộc về sự giải thoát.
“Đây là an lạc, đây là an lạc cao nhất, sự chấm dứt mọi tạo tác nghiệp, sự từ bỏ mọi nền tảng của tái sinh, sự đoạn diệt của tham ái, sự buông bỏ, sự chấm dứt, Niết-bàn”.
Đây là “sự an toàn vô song”, “sự bất tử”, “sự bình yên cao nhất”.
“Đây là trí tuệ thánh thiện, cao cả nhất, biết được sự chấm dứt của mọi đau khổ”.
IV. Sự thật cao thượng về con đường dẫn đến sự đoạn diệt của khổ
Con đường dẫn đến sự đoạn diệt của khổ, đưa đến sự an lạc cao nhất, Niết-bàn, là con đường có tám nhánh Bát Chánh Đạo, bao gồm: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định.
Ở đây, con đường có tám nhánh không có nghĩa là phải được thực hiện một cách tuần tự, lần lượt từng nhánh một. Thay vào đó, cần hiểu rằng chúng là một tổng thể thống nhất, liên quan chặt chẽ với nhau. Ví dụ, chánh kiến xuất hiện ngay từ đầu, bởi vì nó là nền tảng của mọi thiện pháp. Mọi hành động đạo đức đều cần phải đi đôi với một sự hiểu biết đúng đắn ở một mức độ tối thiểu. Tuy nhiên, hình thức cao nhất của chánh kiến cũng lại là giai đoạn kết thúc của sự phát triển, là kết quả của một sự nhận thức đầy đủ về con đường: Một tuệ giác thấu suốt và bình thản về thực tại, trực tiếp dẫn đến giải thoát.
Con đường Bát Chánh Đạo thường được chia thành ba nhóm như sau:
I. Giới: Chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng;
II. Định: Chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định;
III. Tuệ: Chánh kiến, chánh tư duy.
Đây cũng là thứ tự mà các nhóm này đạt đến sự hoàn thiện cao nhất của chúng.
TUỆ (III)
1. Chánh kiến trong ý nghĩa cao nhất của nó là sự hiểu biết về Tứ Diệu Đế. Tất nhiên là ngay cả một người không quen thuộc với Phật pháp cũng có thể có được một mức độ hiểu biết đúng đắn nhất định. Ví dụ như, hành vi đạo đức của vị ấy được đặt trên nền tảng của sự thừa nhận về một quy tắc đạo đức trong cuộc sống này, mặc dù vị ấy có thể diễn giải nó một cách sai khác đi. Chánh kiến cũng là nhánh đầu tiên, bởi vì — ngay cả khi bắt đầu với một sự hiểu biết chỉ thuần tuý là về mặt trí óc hoặc trực giác — nó sẽ cung cấp động lực và sự thúc đẩy để bắt đầu bước đi trên con đường Bát Chánh Đạo.
Tầm quan trọng của một phương pháp tiếp cận, thẩm xét tổng quát, phù hợp với Giáo pháp có thể được tìm thấy trong tuyên bố quan trọng sau đây của chính Đức Phật:
“Này các Kalama, chớ có tin vì nghe báo cáo, chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì được kinh điển truyền tụng; chớ có tin vì lý luận suy diễn; chớ có tin vì diễn giải tương tự; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền, chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình.
Nhưng này các Kalama, khi nào tự mình biết như sau: ‘Các pháp này là thiện; Các pháp này là không đáng chê; Các pháp này không bị các người có trí chỉ trích; Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến hạnh phúc an lạc’, thời này người Kalama, hãy tự đạt đến và an trú!” — Kinh Kalama, Tăng Chi Bộ Kinh 3, 65
2. Chánh tư duy bao gồm ba điều: Tâm xả ly, tâm từ bi, tâm bất bạo động. Chỉ khi một người gieo trồng và trau dồi thường xuyên những tâm này, thường xuyên khởi sinh những tâm này ở trong mình một cách liên tục, thì vị ấy mới có thể có những hành động phù hợp vào những thời điểm thích hợp. Do đó, chúng ta nên thực hành tâm xả ly, thực hành việc từ bỏ một cách thoải mái những ước muốn của mình cũng như từ bỏ mong muốn rằng, mọi việc cần phải xảy ra theo ý của mình. “Hãy từ bỏ những gì không thuộc về bạn! Sự từ bỏ này sẽ dẫn đến những điều lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho bạn!” Chúng ta cần thực hành lòng nhân từ và tốt bụng, kể cả trong những mối quan hệ đối với những con người dửng dưng, thù địch hoặc không thân thiện. Chúng ta cần nuôi dưỡng trong mình sự ghê tởm đối với bất kỳ một loại bạo lực nào và nên cố gắng tránh gây ra mọi tổn thương cho người khác.
Tâm xả ly sẽ củng cố gốc rễ thứ nhất của thiện pháp (vô tham), trong khi tâm từ bi và bất bạo động sẽ củng cố gốc rễ thứ hai của thiện pháp (vô sân). Cả ba tâm này sẽ cùng làm suy yếu gốc rễ của các ác pháp tương ứng (tham và sân).
GIỚI (I)
3. Chánh ngữ có nghĩa là tránh mọi loại nói dối, ngồi lê đôi mách, nói lời thô ác và nói chuyện vô ích.
4. Chánh nghiệp có nghĩa là tránh sát sinh, tránh lấy của không được cho và tránh tà dâm.
5. Chánh mạng có nghĩa là tránh làm những nghề nghiệp gây tổn thương cho các chúng sinh khác (ví dụ như buôn bán sinh vật sống, thịt, chất gây say, thuốc độc, vũ khí,…), và cũng tránh những nghề nghiệp như nghề giết mổ, thợ săn, đánh cá, lính đánh thuê,…
6. Chánh tinh tấn bao gồm “bốn loại nỗ lực cao thượng”: (1) Nỗ lực tránh khởi sinh những tâm xấu ác, bất thiện chưa khởi sinh, bằng cách thu thúc các giác quan và sự tự chủ; (2) Nỗ lực khắc phục, xua tan nhanh chóng những tư tưởng xấu ác, bất thiện đã khởi sinh; (3) Nỗ lực phát triển những tâm thiện, cao thượng chưa khởi sinh; (4) Nỗ lực duy trì những tâm thiện, cao thượng đã khởi sinh.
Tự mình kỷ luật bản thân thông qua “bốn loại nỗ lực cao thượng” này có những giá trị và lợi ích to lớn về mọi mặt, ngay cả nếu chúng không được trau dồi và luyện tập một cách có hệ thống.
7. Chánh niệm bao gồm “bốn bài tập huấn luyện tâm” (Tứ Niệm Xứ — Satipaṭṭhāna). Pháp hành này chiếm một vị trí nổi bật trong việc rèn luyện tâm của Phật giáo. Chúng chỉ được nêu tên ở đây, mà không thể được mô tả chi tiết: (1) Quán thân; (2) Quán thọ; (3) Quán tâm; (4) Quán pháp, các đối tượng của tâm.
Chánh niệm là sự chú ý và hiểu biết rõ ràng trong hành động, lời nói và suy nghĩ. Do đó, chánh niệm là một điều cần thiết cho các hoạt động trong cuộc sống hàng ngày, cũng như là cần thiết cho bất kỳ một sự tiến bộ nào ở bên trong – sự tiến bộ của tâm. Chánh niệm là sự hỗ trợ cốt yếu cho việc thanh lọc tâm và sự tập trung của tâm, và là chìa khóa mang đến một sự hiểu biết rõ ràng về thực tại mà nhờ đó dẫn đến thành tựu giải thoát.
8. Chánh định. Chánh định là sự tập trung ổn định của tâm vào một đối tượng đơn lẻ duy nhất. Chánh định được thực hành khi đối tượng của định là thiện và cao thượng, đặc biệt khi đối tượng đó mang lại lợi ích cho việc theo đuổi mục tiêu giải thoát đã được Đức Phật chỉ dạy. Một sự định tĩnh trong tâm và khả năng xuyên thấu ngày càng sâu hơn vào đối tượng là những đặc tính và kết quả tiếp theo của định. Theo nghĩa này, chánh định là một điều kiện cốt yếu để có được tiến triển thành công trên con đường.
Theo một nghĩa hẹp hơn, chánh định đề cập về một pháp hành thiền, đặc biệt là tứ thiền, bốn tầng thiền an chỉ định (jhāna). Đây là những trạng thái của một sự tập trung tâm đặc biệt mạnh mẽ, đi kèm với một cảm giác hạnh phúc thanh khiết và siêu phàm không thể tưởng tượng được, mà trong đó có sự loại bỏ dần dần các suy nghĩ và niệm tưởng, loại bỏ dần các hạnh phúc và đau khổ trên thân và trong tâm, cho đến đỉnh điểm, lúc tâm đạt đến tầng thiền an chỉ định thứ tư, khi đó sẽ không còn gì khác ngoài một sự bình yên cao quý trong một sự xả bỏ hoàn toàn. Tuy nhiên, những trạng thái thiền định này chỉ xảy ra trong những khoảng thời gian giới hạn. Mặc dù chúng rất hữu ích trong việc hướng tới sự giải thoát khỏi đau khổ, nhưng không phải là tuyệt đối cần thiết cho mục tiêu đó. Tuy nhiên, chánh định vẫn là một điều kiện cốt yếu, theo nghĩa tổng quát hơn như đã được đề cập ở trên. Chỉ có thể nhờ vào một định tâm như vậy mà chúng ta mới có thể phát triển được một cái nhìn thực sự rõ ràng, xuyên thấu và sâu sắc vào thực tại, một cái nhìn phá huỷ vĩnh viễn mọi xiềng xích của sự tồn tại.
Con đường Bát Chánh Đạo, mà Đức Phật, Bậc Toàn Giác đã hoàn toàn thấu suốt, cho phép chúng ta tự mình thấy và biết, là con đường đưa đến an lạc, trí tuệ, giác ngộ, và Niết-bàn.
Ngài, Đấng Thế Tôn, đã khám phá ra con đường chưa được khám phá, đã thiết lập con đường chưa được thiết lập, đã giải thích con đường chưa được giải thích; Ngài là người biết về con đường, là người hiểu về con đường, và cũng là bậc thầy về con đường.
Tuy nhiên, một con đường chỉ có thể là hữu ích, khi nó được đi theo. Nếu muốn thoát khỏi ngôi nhà đang cháy trong thế giới đau khổ này, sẽ là vô ích nếu chúng ta chỉ ngưỡng mộ con đường dẫn đến tự do hoặc chỉ bàn luận về nó mà thôi. Thay vào đó, chúng ta phải quyết tâm đặt bước chân lên con đường. Và chúng ta cần phải tự mình bước đi. Chẳng ai khác có thể làm công việc này cho chúng ta cả. Đây là lý do tại sao Đức Phật đã dạy rằng: “Đây là điều mà Ta có thể làm: Đấng Toàn Thiện sẽ chỉ đường cho con”. Con đường này là một hành trình dài và không hề là dễ dàng. Nhưng liệu rằng nó có quá dài hoặc quá khó khăn, khi mục tiêu đang bị đe dọa là sự giải thoát hoàn toàn khỏi đau khổ? Một khi chúng ta thực sự nhìn vào vực thẳm đau khổ của thế giới, nhìn vào tất cả những khả năng đáng sợ mà nó dành cho tất cả mọi người, thì chúng ta biết rằng, cuối cùng, chúng ta chẳng có một lựa chọn nào khác ngoài việc bắt đầu bước đi trên con đường ngay bây giờ, ngay vào chính khoảnh khắc hiện tại này. Và ngay từ những bước chân đầu tiên, chúng ta đã có thể trải nghiệm được những lợi ích của con đường, khi thấy rằng, mỗi bước thành công trên con đường sẽ trở thành nguồn vui và năng lượng, khiến cho các bước tiếp theo sau trở nên dễ dàng hơn.
Có nhiều vị ở đây đã thành tựu sự Bất Tử,
Và bất cứ ai cũng có thể thành tựu sự Bất Tử này, ngay vào ngày hôm nay,
Những ai nỗ lực một cách trí tuệ cùng với một sự kiên trì dũng mãnh:
Chỉ như vậy, vị ấy mới chiến thắng, xóa bỏ được ảo tưởng về cái “tôi” này.
Viet Hung | A Happiness pursuer | Author of The Happiness Journal, Tản mạn về Hạnh phúc and NGẪM CAFÉ
Sách tôi dịch: Tầm nhìn của Pháp, Trái tim thiền Phật giáo, Thiền cho người mới bắt đầu, Nổi loạn và tự do, Bài chú giải Kinh Mangala Sutta, Sức mạnh của sự hoài nghi và thiền chánh niệm (Vipassana), Những nguyên lý để sống hạnh phúc, Chúng ta đang sống vì điều gì?, Sự cho đi và Tình thương yêu, “Lấy tâm mình làm bạn của chính mình”, Cảm xúc, Thiền với sự hình dung, Căng thẳng, Bản chất cao thượng, Hãy nương tựa vào chính mình, Khuôn mặt vĩ đại trên núi đá, Năm chướng ngại phát triển tâm linh và cách chinh phục
Get your source of inspiration and motivation toward reaching happiness here: https://www.viethungnguyen.com
3 thoughts on “[TNCP] Con đường giải thoát khổ đau”