Bài Pháp: Sức mạnh của sự hoài nghi và thiền chánh niệm (vipassana)

Tác giả: Ngài Sayadaw U Jotika
Dịch Việt: Việt Hùng

Lời người dịch: Đây là bài Pháp do Ngài Sayadaw U Jotika giảng vào ngày 19/06/2004. Tôi có được bản thu âm từ Internet và bài Pháp không có tựa đề. Dựa trên nội dung, tôi mạn phép đặt tên bài Pháp là “Sức mạnh của sự hoài nghi và thiền chánh niệm (vipassana)”. Nội dung bài Pháp là nguồn tham khảo quí báu cho bất cứ thiền sinh vipassana nào. Tôi xin dành mọi công đức thu được từ việc dịch Việt bài Pháp để cầu mong mọi bình yên và thuận lợi đến tất cả mọi người. Bài gốc tiếng Anh được tôi ghi xuống và đăng tại đây.

Ghi chú: Tôi đang từng bước dịch bài Pháp này. Dịch đến đâu, tôi cập nhật đến đó. Phần chưa dịch sẽ còn là tiếng Anh ở bên dưới. Sau khi hoàn thành bản dịch, tôi sẽ tiếp tục với việc thu âm bản dịch đã hoàn thành và chia sẻ ở đây.

[Bắt đầu từ 00:00:54 của bài gốc]

Trước hết, hãy cùng nhau bày tỏ sự tôn kính đến Đức Phật bằng việc tụng niệm câu: “Namo Tassa Bhagavato Arahato Samma Sambuddhasa”.

Namo Tassa Bhagavato Arahato Samma Sambuddhasa
Namo Tassa Bhagavato Arahato Samma Sambuddhasa
Namo Tassa Bhagavato Arahato Samma Sambuddhasa

Bạn đã có các câu hỏi sẳn sàng viết xuống chưa?

Trước khi bạn hỏi, tôi muốn nói về một ý tưởng mà tôi rất hứng thú. Tôi có một cái tâm rất tò mò và cũng có cả một cái tâm rất hoài nghi. Nếu bạn hoài nghi thì bạn cũng sẽ trở nên tò mò hơn. Khi còn trẻ, tôi đã đọc rất nhiều sách về mọi chủ đề: triết học, khoa học, tâm lý học, tôn giáo, lịch sử, nhân chủng học, văn hoá, … Tôi hứng thú với mọi thứ. Khi tôi đọc về triết học, tôi đã đọc các cuốn sách được viết bởi Bertrand Russell. Nhiều bạn hẳn đã đọc sách của ông ấy. Ông ấy đã viết một cuốn sách có tựa đề “Những bài luận hoài nghi”. Tôi rất thích tựa sách đó, “Những bài luận hoài nghi”. Bởi vì, tôi nghĩ rằng một người hoài nghi sẽ xem xét một cách sâu sắc hơn từ nhiều góc độ khác nhau nhằm đảm bảo rằng một điều gì đó là thực sự hợp lý, là sự thật.

Sức mạnh của sự hoài nghi

Tôi lớn lên trong một nền văn hoá rất pha trộn, với nhiều người thực hành nhiều tôn giáo khác nhau. Tôi được giáo dục trong một trường truyền giáo của nhà thờ Thiên chúa giáo tên là Trường trung học St. Patrick’s. Giờ thì chẳng còn trường đó nữa. Tôi đã tiếp xúc với nhiều tôn giáo khác nhau. Và khi tôi đọc về các tôn giáo khác nhau, các tôn giáo lớn, một cách tự nhiên tôi đã trở nên rất hoài nghi. Bởi vì nếu bạn chỉ biết đến một ý tưởng, bạn sẽ chấp nhận ý tưởng đó mà không đặt ra bất cứ một dấu hỏi nào. Nhưng khi bạn biết đến quá nhiều ý tưởng khác nhau, bạn sẽ bắt đầu suy nghĩ, vậy thì điều nào là đúng? Bởi vì các ý tưởng này mâu thuẫn với nhau. Do đó, khi đọc về tôn giáo, càng đọc, tôi càng trở nên hoài nghi.

Khi còn rất trẻ, có thời điểm tôi đã nghĩ rằng, có lẽ những con người này có ý tốt. Nhưng không ai trong họ thực sự biết sự thật. Với ý định rất tốt đẹp, họ bảo bạn điều gì là đúng và điều gì là sai. Họ bảo bạn điều gì là thiện và điều gì là bất thiện. Trong một vài trường hợp, họ đúng. Nhưng họ không luôn luôn đúng. Tôi đọc được rằng, trong khi một tôn giáo bảo rằng điều này là thiện, hãy làm điều đó thì một tôn giáo khác lại bảo điều đó là bất thiện, đừng làm điều đó. Cùng một hành động nhưng đối với các tôn giáo khác nhau lại rất khác nhau. Một bên thì được phân loại là thiện, là lợi ích, là mang đến các kết quả tốt và hạnh phúc. Trong khi cùng hành động đó trong một tôn giáo khác thì lại được xem là bất thiện, là mang đến các kết quả tồi tệ và khổ đau. Làm sao tôi có thể quyết định đây? Nếu giữ cho tâm mình thực sự cởi mở và không thành kiến, làm sao tôi có thể quyết định ai đúng và ai sai đây? Có thời điểm, tôi đã cho rằng tốt hơn cả là đừng tin vào bất cứ một tôn giáo nào. Bởi vì nếu tin một tôn giáo nào đó, bạn sẽ bị kiểm soát bởi tôn giáo đó. Bạn được bảo rằng hãy làm điều này, đừng làm điều kia. Nếu bạn không nghe lời, bạn sẽ bị đánh giá, bị phê bình, bị trừng phạt, bị rút phép và chịu mọi loại hậu quả khủng khiếp khác. Vậy là, khi tôi đọc về các tôn giáo, tôi nghĩ rằng tôn giáo biến bạn trở thành một tù nhân. Tôi không có từ nào tốt hơn để diễn tả. Đó là những gì tôi cảm nhận. Đó là cách mà tôi đã cảm nhận được.

Tự do và động cơ thúc đẩy

Kể từ khi còn rất trẻ, tôi thực sự yêu tự do. Bất cứ khi nào thấy một điều gì đó làm tôi không tự do, tôi đều không thích nó. Trong nhiều tôn giáo, họ thúc đẩy bạn bằng cách bảo rằng nếu bạn làm điều này, bạn sẽ đến được thiên đường, hoặc nếu bạn làm điều kia, bạn sẽ bị đoạ xuống địa ngục. Như vậy, họ khiến cho bạn lo lắng và sợ hãi. Khi đọc đến đó, tôi nghĩ rằng đây không phải là một cách tốt để tạo động lực thúc đẩy người ta làm điều tốt và tránh việc xấu. Bởi vì, động lực được tạo ra hoặc do bởi lòng tham hoặc do bởi sự sợ hãi về một điều gì đó. Tôi cho rằng cả hai đều là tiêu cực. Ví dụ, trong Phật pháp, bạn biết rằng việc giết hại là bất thiện. Bạn không nên giết chóc. Vì sao vậy? Thường thì người ta sẽ bảo rằng, nếu bạn giết hại thì trong cuộc sống kế tiếp, bạn sẽ bị giết hại. Hoặc đôi khi nó xảy ra ngay trong cuộc sống này, bạn sẽ bị giết hại hoặc bạn sẽ có một cuộc sống ngắn ngủi, hoặc là bạn sẽ rất ốm yếu, bệnh tật. Bạn sẽ phải gánh chịu mọi loại bệnh tật, ốm đau. Điều đó kiểu như làm cho bạn sợ hãi hành động bất thiện này.

Bởi vì tôi đã có một cái tâm rất hoài nghi kể từ khi còn trẻ, tôi nghĩ rằng vậy ai có thể chứng minh được rằng thật sự có một địa ngục? Vậy ai có thể chứng minh được rằng, bạn sẽ phải gánh chịu khổ đau do bởi các hành động bất thiện của mình? Chẳng có bằng chứng nào cả. Chẳng ai có thể chứng minh điều đó cả. Họ cũng nói rằng, nếu bạn rộng rãi, nghiệp tốt đó sẽ mang đến cho bạn những kết quả tốt đẹp và bạn sẽ trở thành một người rất giàu có ở cuộc sống kế tiếp. Đó là động cơ thúc đẩy lòng tham của bạn, làm cho bạn cảm thấy tham lam. Đó là một cách đầu tư tốt, nếu xét về mặt đầu tư. Bạn cúng dường $100 và bạn sẽ thu được $1,000,000. Đó là một đầu tư quá hời. Tôi nghĩ rằng, điều này thật là trẻ con. Đó là những gì tôi nghĩ. Tôi đang kể cho bạn nghe những suy nghĩ của tôi hồi trẻ. Tôi nghĩ rằng, cả hai loại động lực thúc đẩy này khiến bạn tham lam hoặc khiến bạn sợ hãi, nhưng nó lại không giúp bạn trở nên trí tuệ.

Đừng tin

Như vậy, khi còn trẻ, tôi đã chẳng tin vào bất cứ điều gì. Một vài người bảo rằng, tôi là một người suy nghĩ quá nhiều và giờ đây tôi vẫn vậy. Tôi đã chưa bao giờ đánh mất sự tự do của mình. Nhưng suy nghĩ quá nhiều không có nghĩa là bạn chẳng tin vào một điều gì cả. Suy nghĩ quá nhiều nghĩa là bạn sẽ cần mất nhiều thời gian hơn để tìm ra được điều gì thực sự là đúng, điều gì thực sự là thiện. Bạn không tin một điều gì đó chỉ bởi vì một ai đó bảo rằng bạn phải tin. Và đây là điều mà tôi thích thú trong Phật pháp. Có lẽ một vài người trong các bạn đã đọc bản Kinh Kalama. À, nhiều bạn đã đọc rồi. Đó là bản Kinh mà tôi yêu thích nhất. Bạn biết tại sao không? Bởi vì Đức Phật đã dạy rằng: “Đừng tin.”

Trong mọi tôn giáo khác (với Phật giáo), bạn sẽ phải tin. Đức tin là một trong những yếu tố quan trọng nhất. Nhưng trong Phật pháp, bạn không bị buộc phải tin vào bất cứ điều gì. Bạn không được yêu cầu phải tin vào bất cứ điều gì. Sự hoài nghi không phải là một điều cấm kỵ to lớn (trong Phật pháp). Trong bản Kinh Kalama, Đức Phật đã dạy rằng: “Đừng tin vào một điều gì đó chỉ bởi nó là một truyền thống” – mā anussavena. “Đừng tin vào một điều gì đó bởi vì bạn được nghe đi nghe lại nhiều lần” – mā param parāya. “Đừng tinh vào một điều gì đó chỉ bởi vì cha của bạn tin vào điều đó, ông của bạn tin vào điều đó, tổ tiên của bạn tin vào điều đó.” Bởi vì đó là một truyền thống. Mọi người có thể nói rằng, ý tưởng này đã 5000 năm tuổi. Do đó, nó ắt hẳn phải là đúng. Nhưng chỉ bởi vì một hệ thống đức tin có 5000 năm tuổi chẳng thể nào là một bằng chứng tốt cho tính đúng đắn của nó.

Mā anussavena, mā param parāya… Mā iti kirāya – Đừng tin vào những thứ hạng hai. Hầu hết những gì chúng ta tin là các kiến thức hạng hai. Bao nhiêu người trong chúng ta có kiến thức hạng nhất về sự thật? Rất ít. Mā takka hetu, mā naya hetu – takka có nghĩa là logic, suy luận. Tôi rất thích logic và suy luận. Tôi đã học môn logic và cả môn logic ký hiệu. Tôi đọc nhiều sách triết học. Trong các cuốn sách đó, họ sử dụng logic, suy luận logic để đi đến một kết luận. Tôi đã đọc nhiều hệ thống triết lý khác nhau. Ví dụ như, tôi đã đọc triết lý của Bertrand Russell, Wittgenstein, … và nhiều triết gia khác. Tất cả các triết gia này đều tự cho rằng họ thực sự suy luận chặt chẽ, logic. Nhưng họ lại đi đến những kết luận khác nhau. Nếu tất cả họ đều suy luận thật sự hợp lý, làm sao họ lại có thể đi đến những kết luận khác nhau đến vậy? Như vậy là nếu chỉ bằng suy luận, bạn không thể đến với sự thật được. Suy luận là rất quan trọng. Bạn phải học để đọc chúng (các hệ thống triết lý). Nhưng các hệ thống triết lý cũng không thể thực sự mang chúng ta đến với sự thật.

Mā diṭṭhi nijjhāna kkhantiyā – Đôi khi hoặc một cách nào đó chúng ta có một kết luận và chúng ta tin rằng điều đó là đúng đắn. Rồi khi nghe một ai khác nói về cùng quan điểm đó, chúng ta cảm thấy rất sung sướng. “Ồ, tôi cũng tin vào điều đó. Anh ta cũng tin vào điều đó. Do đó, cả hai chúng tôi ắt hẳn phải đúng.” Nhưng cả hai có thể sai.

Và Đức Phật cũng dạy rằng: “Mā piṭaka sampadānena”, nghĩa là đừng tin vào một điều gì đó chỉ bởi vì nó được nói trong sách vở. Ngày nay, chúng ta viết về một điều gì đó và muốn chứng tỏ rằng điều đó là đúng bằng cách trích dẫn lại từ sách vở. Ví như là, à điều đó được nói đến trong cuốn sách này, ở trang nọ. Chỉ bởi vì chúng ta trích dẫn lại từ những cuốn sách lớn không có nghĩa rằng ý tưởng đó là đúng. Do đó, Đức Phật đã dạy rằng: “Mā piṭaka sampadānena”. Chỉ bởi rằng một ý tưởng phù hợp với tạng kinh, với sách vở không phải là một bằng chứng tốt cho việc chỉ ra rằng điều đó là đúng. Thực ra, pitaka có nghĩa là sách, bất cứ sách vở nào bao gồm cả kinh điển Pali. Hãy nghiền ngẫm về ý tưởng này. Thật là một ý tưởng gây sốc. Bạn còn có thể hoài nghi luôn cả kinh điển Pali. Ai đã viết các cuốn kinh Pali? Chúng ta không biết. Bao nhiêu người đã viết nên kinh điển Pali? Rất, rất nhiều người, chẳng thể nào là một người được. Rất nhiều người cùng nhau làm việc đó, đặc biết là rất nhiều các vị tăng. Tất nhiên đó là những vị tăng thống rất đáng tin cậy. Họ viết lại tam tạng kinh điển. Họ viết cả các chú giải cho kinh điển. Và rồi họ cũng viết cả chú giải cho các chú giải. Mọi việc tiếp diễn như thế.

Mā bhabba rūpatāya. Sau khi hoàn tất các khoá học, mọi người sẽ có các danh hiệu to lớn, các bằng cấp to lớn như là tiến sĩ hay bất cứ các bằng cấp nào khác. Đừng tin tưởng anh ta chỉ bởi anh ấy có vẻ như có khả năng, chỉ bởi anh ấy có vẻ như đã đạt được những thành tựu.

Mā ‘samaṇo no garū’ti. Samaṇa có nghĩa là một vị sư và cũng có nghĩa là Đức Phật. Đức Phật cũng được gọi là samaṇa. Garū có nghĩa là vị thầy. Đừng tin vào một ý tưởng chỉ bởi điều đó được dạy bảo bởi vị thầy của bạn, một vị sư. Đừng tin vị thầy của bạn.

Tự do (tâm trí) đòi hỏi rất nhiều can đảm

Khi tôi đọc được tất cả những điều trên từ bản Kinh Kalama, tôi đã tự hỏi bản thân rằng, nếu bỏ đi tất cả những thứ này (những gì tôi đã học hỏi và biết) thì tôi còn lại điều gì? Tôi không còn tin vào sách vở nữa. Tôi cũng không tin vào bất cứ vị thầy nào nữa. Tôi không tin vào bất cứ truyền thống nào nữa. Tôi cũng không tin vào logic và triết lý nữa. Tôi không tin vào bất cứ ai nữa. Vậy thì làm sao tôi biết được điều gì là đúng và điều gì là sai? Đó là thách thức lớn nhất trong cuộc đời của tôi. Điều đó cho bạn thật nhiều tự do. Bạn có nhiều can đảm để có thể cho bạn được nhiều tự do đến vậy không? Bạn có thể cho bản thân mình sự tự do. Chẳng ai có thể lấy đi được cả. Hãy suy nghĩ về điều đó. Hãy cho bản thân mình tất cả sự tự do (trong tâm trí) đó. Và rồi bạn sẽ thấy rằng nó cũng rất đáng sợ. Tự do thực sự đáng sợ. Bạn sẽ cần thật nhiều can đảm để nhận về tự do. Bởi vì với sự tự do đó, bạn có trách nhiệm thật to lớn để tự mình tìm về với sự thật. Khi đọc bản Kinh Kalama, tôi đã bị sốc nặng. Mặc dù tôi yêu sự tự do, một cách vô thức, tôi vẫn muốn tìm được một ai đó có thể thực sự thuyết phục tôi rằng một điều gì đó là đúng đắn. Nhưng khi đọc được bản Kinh Kalama, tôi nhận ra rằng kể cả nếu như bạn tìm được một người có thể thuyết phục được bạn, bạn sẽ vẫn cần phải hoài nghi về người đó.

Thiền chánh niệm (vipassana): Con đường tìm về với sự thật

Bản Kinh Kalama có đưa ra câu trả lời (để tìm về với sự thât, để biết được điều gì là thiện và điều gì là bất thiện): Thực hành và tìm ra. Để tin vào một điều gì đó thì khá là dễ dàng. Nhưng để tự mình tìm ra nó thì lại chẳng phải là điều dễ dàng. Sẽ cần nhiều, rất nhiều thời gian. Tôi đã bắt đầu thực hành Phật pháp mà không tin vào bất cứ điều gì. Bạn có làm được điều đó không? Bạn có thể thực hành một điều gì đó mà không tin vào bất cứ một thứ gì không? Bạn có thể làm điều đó. Tôi đã bắt đầu hành thiền mà không tin vào bất cứ một kết quả nào. Điều đó rất đơn giản. Vị thầy đầu tiên dạy tôi hành thiền là một nhạc sĩ, thầy dạy nhạc của tôi. Tôi đã rất may mắn có được vị thầy như vậy, chứ không phải là một nhà sư.

What a wonderful world (Thật là một thế giới tuyệt vời)

Tôi rất yêu âm nhạc. Tôi chơi đàn violin, đàn mandolin. Và tôi cũng chơi nhiều nhạc cụ khác nữa. Tôi cũng thích hát. Tôi là một ca sĩ hát hay. Tôi có một giọng hát hay. Tôi có thể hát ngay bây giờ. Bạn có thể nghe giọng của tôi. Một chất giọng hay. Tôi tin như vậy. Bạn muốn nghe tôi hát không? Tôi sẽ hát một bài hát, một bài hát rất quan trọng. Tôi đã học bài này khi còn rất trẻ. Nó đã ở lại trong trái tim tôi, không chỉ ở trong tâm, mà nó ở lại trong trái tim của tôi. Tôi tin rằng hầu hết các bạn đều đã nghe bài hát này. Tôi sẽ không thực sự hát. Nếu tôi hát, nghe sẽ rất buồn cười khi một vị sư hát hò. Nhưng tôi sẽ hát khẽ để bạn biết đó là bài gì.

I see trees of green, red roses too
I see them bloom for me and you
And I think to myself what a wonderful world.

Ồ, rất nhiều bạn biết bài hát này. Tôi có thể hát toàn bộ bài. Và khúc cuối là…

I hear babies crying, I watch them grow
They’ll learn much more than I’ll ever know
And I think to myself what a wonderful world.

Bài hát này rất có ý nghĩa. Bạn biết ai sáng tác bài này không? Louis Armstrong, ca sĩ nhạc jazz người da đen, nghệ sĩ đàn trumpet, rất nổi tiếng. Ông ấy là một người rất đáng yêu. Ông ấy yêu thế giới này. Ông ấy yêu mọi người. Và ông ấy diễn đạt tình yêu cho thế giới này, tình yêu cho mọi người. Ông ấy đi vòng quanh thế giới để hát bài hát này, để thúc đẩy mọi người yêu thương. Bài hát này là một sự diễn đạt của tinh thần lạc quan. Tôi rất thích bài hát này. Tôi nghĩ rằng tất cả mọi học sinh nên học để hát bài hát này, để thực sự hiểu và cảm nhận được nó. Thế giới này thật tuyệt vời làm sao! Mọi người thật tuyệt vời làm sao! Trẻ con thật tuyệt vời làm sao! Càng lớn tuổi, tôi càng thấy rõ rằng trẻ con là một kỳ quan của tạo hoá. Thật tuyệt vời được nhìn thấy chúng vui cười, chơi đùa và tận hưởng cuộc sống của chúng và thấy tiềm năng to lớn trong con người của chúng. Bạn chẳng thể biết được chúng sẽ trở thành con người như thế nào trong tương lai.

Lần đầu tiên hành thiền

Tôi đã từng là một ca sĩ hát hay, một nhạc công giỏi. Tôi đến chỗ thầy dạy nhạc của tôi để học nhạc. Thầy chơi các bản nhạc cổ điển Miến Điện bằng đàn mandolin. Tôi thích nhạc cổ điển, Miến Điện cũng như Châu Âu. Tôi chơi nhạc cổ điển Châu Âu trên đàn violin và chơi nhạc cổ điển Miến Điện trên đàn mandolin. Sau giờ học nhạc, vào một ngày nọ thầy tôi bảo: “Chúng ta hãy hành thiền nhé.” Bởi vì tôi rất yêu kính vị thầy dạy nhạc của tôi, tôi không muốn từ chối. Cũng trong thời gian đó, tôi đang đọc rất nhiều sách về Phật pháp và rất hứng thú với thiền tập. Nhưng tôi chưa có cơ hội nào gặp được một thiền sinh cả. Nên khi thầy đề nghị ngồi và hành thiền, tôi đã đồng ý. “Bao lâu thầy nhỉ?” Thầy bảo 10 phút. Tôi tự bảo, chỉ 10 phút thôi. Ngắn thôi mà. Chẳng có lý do gì để từ chối cả.

Thế là tôi ngồi xuống với thầy và hỏi thầy rằng tôi cần làm gì? Thầy bảo, chỉ thở và đặt sự chú ý vào hơi thở của mình. Tôi ngồi đó với thầy. Thầy ở đó, thở và tôi ngồi gần thầy và thở, thở rất sâu và đặt sự chú ý lên hơi thở, lên cảm giác ở gần nơi lỗ mũi. Sau khoảng 10 phút, thầy bảo bây giờ tôi có thể thư giãn. Thế là tôi chỉ thư giãn và hơi thở của tôi trở nên rất chậm, rất nhẹ nhàng và nó hầu như dừng lại. Tôi đã không biết tại sao tôi nên hành thiền và nên đặt mong đợi gì từ việc đó. Nhưng bởi vì sự kính yêu của tôi dành cho vị thầy dạy nhạc, tôi đến nhà thầy mỗi tối để học âm nhạc từ thầy và sau giờ học nhạc, chúng tôi lại ngồi với nhau và hành thiền. Thầy đã chẳng dạy bảo tôi thêm điều gì khác về thiền tập. Thầy bảo rằng hãy cùng nhau hành thiền và chỉ dẫn vẫn cũng đơn giản là: “Ngồi thoải mái nhất có thể, thở sâu và đặt sự chú ý lên hơi thở của con.” Đó là toàn bộ chỉ dẫn tôi có được từ thầy. Sau khi hành thiền khoảng tầm một tháng, đôi khi tôi cảm thấy rất an định và bình yên, sau khi hành thiền, ngay cả chỉ với 10 phút. Khi tâm tôi trở nên rất an định, tĩnh lặng, và bình yên, tôi rất thích cảm giác đó: an định, tĩnh lặng và bình yên. Do đó, tôi ngày càng hứng thú hơn với việc hành thiền. Và ngay cả ở nhà, trước khi đi ngủ, tôi đã ngồi thiền tầm 10 phút, 15 phút. Tôi rất thích hành thiền. Cũng giống như âm nhạc, tôi thích thiền tập. Do đó, tôi học thiền và cũng học để tận hưởng việc hành thiền.

Những lợi ích đầu tiên của việc hành thiền

Và đây là một điều tôi tự ghi nhận được. Bất cứ thứ gì tôi làm, tôi làm là bởi vì tôi hứng thú với việc ấy. Tôi giữ được được nhịp là bởi vì tôi yêu thích việc đó. Khi mới bắt đầu, nó chỉ là sự tò mò. Tôi chỉ muốn xem điều gì sẽ xảy ra. Nhưng khi hành thiền lâu hơn, tôi thấy rằng nó khiến tâm tôi trở nên định tĩnh và bình yên. Tôi rất thích sự bình yên đó. Vì thế, tôi tiếp tục hành thiền. Ở thời điểm đó, tôi tầm 15, 16 tuổi. Sau khi hành thiền một thời gian, tôi nhận ra rằng nếu tôi đọc, học hay làm bất cứ việc gì, tôi có thể tập trung tốt hơn. Bất cứ thứ gì tôi đọc hoặc học, tôi có thể nhớ rõ. Tôi có thể suy nghĩ và suy luận một cách rõ ràng hơn. Nếu phải giải quyết một vấn đề nào đó, tôi có thể làm điều đó một cách rất dễ dàng. Như vậy, lợi ích đầu tiên tôi thấy được từ việc hành thiền là một cái tâm định tĩnh và bình yên. Và điều đó giúp tôi trong việc học tập. Tôi đã không biết bất cứ thứ gì về nibbāna (Niết bàn). Tôi cũng chẳng biết bất cứ thứ gì về anicca (vô thường), dukkha (khổ), hoặc anatta (vô ngã), chẳng biết gì cả. Chỉ với việc hành thiền một cách đơn giản và trở nên định tĩnh, bình yên và tĩnh lặng, tôi đã có được quá nhiều lợi ích. Đó là những kinh nghiệm trực tiếp của tôi. Thầy tôi đã không bảo tôi phải mong đợi một điều gì cả. Thầy đã không bảo rằng tôi nên hành thiền để có thể chứng ngộ niết bàn. Tôi nghĩ rằng nếu thầy bảo tôi hành thiền để chứng ngộ niết bàn, có lẽ tôi đã từ chối việc hành thiền. Nhưng bởi vì thầy không bảo tôi phải mong đợi bất cứ điều gì, tôi đã tự tìm thấy lợi ích mà việc hành thiền mang lại. Như vậy, thầy đã cho tôi sự tự do để tìm ra, để khám phá. Tôi đã không tự xem mình là một đệ tử của bất cứ một tôn giáo nào tại thời điểm đó.

Tôn giáo của bạn là gì?

Sau kỳ thi lớp 10, tôi vào đại học, học ngành kỹ sư. Tôi có bạn bè cùng học chung kỹ sư. Trong trường, chúng tôi phải điền các mẫu khai. Một trong những câu hỏi là: “Tôn giáo của bạn là gì?” Tôi đã điền “Chưa có tôn giáo nào” vào ô trả lời. Thực tình là tôi đã trả lời như vậy. Nhưng trong tiếng Miến Điện, điều đó nghe rất khủng khiếp. (Từ tôi dùng để trả lời trong) tiếng Miến Điện có nghĩa là “Không có gì”, “Không có”. Bạn của tôi đã góp ý, nếu bạn nói “không có”, điều đó nghe rất thô lỗ. Nên tôi đổi thành một chữ khác trong tiếng Miến Điện, có nghĩa là “Không có tôn giáo nào”. Bạn tôi vẫn cho rằng, nghe vẫn chưa ổn, rằng tôi nên dùng từ nào đó lịch sự hơn. Rồi tôi đã điền vào “Chưa có tôn giáo nào”. Chưa có nghĩa là tôi để ngõ việc lựa chọn cho mình một tôn giáo. Một ngày nào đó, có lẽ tôi sẽ có tôn giáo. Con người tôi là như vậy. Tôi muốn các bạn biết con người của tôi như thế nào. Trong suốt 6 năm ở trường đại học, bất cứ khi nào phải điền mẫu khai, tôi luôn luôn điền vào rằng “Chưa có tôn giáo nào”, “Chưa có tôn giáo nào”. Tôi chưa theo một tôn giáo nào. Tôi chưa theo một tôn giáo. Cứ như vậy trong suốt 6 năm đại học.

Chỉ cần ngồi, đừng làm gì cả, lắng nghe sự yên lặng

Dù không xác nhận rằng mình đang theo bất cứ một tôn giáo nào, tôi ngày càng hứng thú hơn với Phật pháp và thiền tập. Sau đó, tôi bắt đầu đọc các sách vở về thiền. Tôi không đến một tu viện nào cả. Tôi cũng không bước vào bất cứ một thiền viện nào cả. Mặc dù tôi có ghé một vài tu viện trên núi. Nhưng đó là bởi vì ở trên núi, các tu viện rất yên lặng, rất đơn giản và rất bình yên.

Những lúc tôi cảm thấy mệt mỏi, căng thẳng, bối rối, giận dữ hoặc buồn bực, tôi sẽ đi lên núi và tìm một nơi yên tĩnh trong một tu viện, dưới bóng râm. Tôi sẽ đến và ngồi ở đó. Đôi khi tôi hành thiền. Nhưng đôi khi chẳng thực sự là hành thiền, chỉ ngồi đó ở một nơi chốn yên tĩnh. Và điều đó đã giúp tôi thật nhiều. Tôi muốn khuyến khích bạn đến một nơi chốn rất yên tĩnh và đơn giản, và rồi chỉ cần ngồi đó. Đừng làm gì cả. Chẳng làm gì cả. Bạn làm điều đó được không? Chẳng làm gì cả. Nó không dễ dàng gì. Không làm gì không phải là việc dễ dàng. Bạn sẽ đến đó, ngồi và suy nghĩ về những vấn đề của mình (chứ chẳng ngồi không được). Bởi vì tôi đã học thiền và thiền tập đã làm cho tâm tôi định tĩnh, bất cứ khi nào tôi đến tu viện ở trên núi, tìm một nơi yên tĩnh và đẹp, rồi ngồi xuống, dần dần (tâm) tôi trở nên rất định tĩnh và bình yên. Và bởi vì sự định tĩnh và bình yên đó, tất cả mọi mệt mỏi, mọi lo lắng, mọi băn khoăn đều biến mất. Tôi thấy rằng chỉ cần ngồi ở một nơi yên tĩnh có thể giúp được bạn rất nhiều.

Thứ mà tôi thực hành chẳng phải là một tôn giáo nào cả. Tôi không xem đó là một thực hành tôn giáo. Chỉ tìm tới một nơi yên tĩnh và đơn giản, ngồi xuống một mình và không làm gì cả. Đôi khi, tôi lắng nghe tiếng chim. Đôi khi tôi nghe tiếng chuông trên điện thờ. Đôi khi tôi cảm nhận những cơn gió. Vâng, tôi chỉ lắng nghe tiếng chim, lắng nghe tiếng gió. Đôi lúc, lắng nghe cả sự yên lặng nữa. Bạn có thể lắng nghe sự yên lặng được không? Nếu bạn học cách, bạn sẽ làm được. Khi bạn lắng nghe sự yên lặng, điều gì sẽ xảy ra trong tâm của mình? Tâm của bạn sẽ trở nên yên lặng. Đối tượng của tâm bạn ảnh hưởng đến trạng thái tâm của bạn. Khi bạn ngồi yên và lắng nghe tiếng chim, lắng nghe tiếng chuông, tiếng gió, rồi bạn sẽ bắt đầu suy nghĩ về điều này điều kia. Bạn đặt sự chú ý lên suy nghĩ của bạn, và rồi nó ra đi. Rồi (tâm) bạn lại trở nên định tĩnh và yên lặng. Bạn lắng nghe sự yên lặng ở bên ngoài, lắng nghe sự yên lặng ở bên trong. Khi có sự yên lặng cả ở bên ngoài lẫn bên trong, mọi thứ trở nên thực sự yên lặng. Bởi vì ngay cả nếu có sự yên lặng ở bên ngoài, nhưng nếu tâm của bạn xáo động, bạn không thể nghe được sự yên lặng. Bạn chẳng thể nào nghe thấy sự yên lặng. Chỉ khi tâm của bạn trở nên yên lặng, bạn mới có thể thực sự nghe được sự yên lặng. Tôi đều đặn tĩnh lặng như thế và có được rất nhiều lợi ích từ đó. Bất cứ khi nào tôi có vấn đề lớn trong cuộc đời, đôi khi là những khủng hoảng lớn, tôi sẽ đi lên núi, tìm một nơi rất đẹp và yên tĩnh, rồi sẽ chỉ ngồi đó. Có khi một vài giờ đồng hồ, có khi cả ngày, tuỳ vào bản chất của vấn đề mà tôi gặp phải.

Tôi chỉ muốn trốn đi. Trốn đi một lúc. Đôi lúc, tôi chẳng muốn sống ở nhà. Bởi vì đôi lúc, nhà chẳng phải là một nơi chốn bình yên để sống. Quá nhiều sự bất đồng, tranh cãi, và đấu tranh. Nên đôi lúc thật là đau đớn khi phải có mặt ở nhà. Khi tôi không muốn ở nhà, tôi sẽ lên núi, vào các tu viện, tìm một nơi yên tĩnh và ngồi xuống. Đó làm một kiểu hành thiền. Tôi không thể nói đó là loại thiền gì, chỉ ngồi xuống một cách yên lặng và đặt sự chú ý lên những gì bạn nghe, những gì bạn cảm nhận, những gì bạn suy nghĩ. Và từ từ, mọi thứ trở nên định tĩnh và bình yên. Đó là một kiểu hành thiền.

Đến với thiền chánh niệm (vipassana)

Sau đó, tôi tiếp tục học thêm nhiều nữa về thiền tập. Khi hoàn thành chương trình kỹ sư, tôi thấy có nhiều thời gian hơn để hành thiền. Trước đó, tôi đã quá bận rộn với việc học hành cho các kỳ thi và cũng quá bận rộn đọc các cuốn sách về nhiều chủ đề khác nhau. Nên sau khi hoàn thành chương trình kỹ sư, tôi tìm đến một tu viện phù hợp để hành thiền. Nhưng, chữ “nhưng” này là một chữ “nhưng” rất quan trọng. Mặc dù tu viện đó là một nơi thích hợp, khi thọ giới sa di (không phải là một tỳ kheo, mà chỉ là một vị sư mới), tôi đã hỏi vị sư viện chủ rằng: “Con muốn hành thiền. Xin thầy dạy cho con.” Sư đã bảo rằng, tôi có thể tìm vài cuốn sách trong thư viện, đọc và tự hành thiền lấy.

Tôi không thể thỉnh cầu sư dạy tôi (hành thiền). Tôi đến thư viện và chọn lấy một cuốn sách về thiền. Đó là một pháp hành thiền về hơi thở. Bạn thở rất mạnh và đặt sự chú ý của bạn lên không khí đi vào và đi ra khỏi mũi của bạn. Bạn cảm nhận được nó rất rõ rệt. Bạn hít thở mạnh đến nổi bạn không thể không chú ý lên hơi thở. Tôi đã thực hành pháp thiền đó. Bởi vì tôi còn mới mẻ (với việc xuất gia) tại thời điểm đó và chẳng có việc gì khác để làm, tôi đã ngồi thiền, đặt sự chú ý của mình lên hơi thở. Và đôi khi tôi đi thiền ở đó. Nơi ở mà tôi được cấp cho là một căn nhà lớn, lớn hơn cả khán phòng này. Nên tôi có rất nhiều không gian để đi thiền. Tôi đi lên, đi xuống căn phòng đó. Mỗi khi bước, tôi đặt sự chú ý vào việc nhấc bàn chân, di chuyển bàn chân, và đặt bàn chân xuống sàn nhà. Sàn nhà làm bằng xi-măng, rất cứng và lạnh. Nên bất cứ khi nào đặt chân xuống, tôi cảm nhận được cảm giác đó: cứng và lạnh. Tôi không thể sót được cảm nhận đó. Tôi đặt sự chú ý vào cảm giác đó trong mỗi một bước chân.

Tôi ngồi thiền một tiếng đồng hồ và sau đó đi thiền một tiếng đồng hồ, thay đổi xen kẽ như vậy, thực hành như vậy từ việc đọc sách mà không có bất cứ một sự hướng dẫn nào. Vào thời điểm đó, tôi thọ giới sadi trong 20 ngày. Tôi muốn thọ giới lâu hơn nữa. Nhưng nhiều vấn đề đã xảy ra và mọi người tìm đến và bảo tôi phải xả y. Bởi vì tôi phải giải quyết các vấn đề đó. Một cách miễn cưỡng, tôi đã xả y và trở về giải quyết các vấn đề. Khi đã giải quyết xong, tôi quyết định sẽ hành thiền lâu hơn nữa. Tôi đi thật xa đến một tu viện khác sâu trong rừng. Chẳng ai biết được nơi tôi đến. Bởi vì nếu tôi nói cho bất cứ ai nơi tôi đến, họ sẽ đến và bảo tôi rằng có vấn đề tôi cần phải giải quyết. Nên tôi đã bỏ đi mà không nói với bất cứ ai nơi mà tôi đến. Tôi đến tu viện thiền lâm đó và học thiền từ một vị thầy khác. Vị thầy này đã dạy tôi thật nhiều. Thầy dạy tôi toàn bộ bản kinh Đại niệm xứ (Mahasatipatthana Sutta), cả phần nội dung và phần thực hành. Đó là lần đầu tiên tôi học về Mahasatipatthana Sutta. Trước đó, tôi đã nghe nơi này nơi kia một vài điều về pháp quán niệm hơi thở (anapana) và một vài pháp thiền khác (được dạy trong bản kinh này). Nhưng với vị thầy này, tôi đã được học toàn bộ bản kinh. Các bạn đã đọc bản kinh này rồi chứ? Điều đầu tiên mà Đức Phật đã dạy trong bản kinh Mahasatipatthana Sutta là gì nhỉ?

“Ekāyano bhikkhave maggo sattānaṃ visuddhiyā…” “Đây là con đường duy nhất để thanh tịnh chúng sanh, vượt khỏi sầu, ưu, đoạn diệt đau khổ, đạt đến chánh đạo, chứng ngộ Niết Bàn, đó là tứ niệm xứ”. Ngay từ câu đầu tiên đó, tôi đã suy nghĩ, đây là con đường duy nhất để chúng sinh thanh lọc mình. Để trở nên thanh tịnh nghĩa là tâm của bạn trở nên thanh tịnh. Thân của bạn lại là một vấn đề khác. Hành thiền làm thanh tịnh tâm của bạn. Khi tôi đọc đến đó, tôi đã bắt đầu tự hỏi, vậy thanh tịnh có nghĩa là gì?

Biết khác với suy nghĩ

Khi đọc và nghiền ngẫm về bản kinh này, tôi đã nhận ra rằng, trong hầu hết thời gian, tâm của chúng ta không được thanh tịnh. Nó đầy rẫy tham muốn, giận dữ, đố kỵ, ganh tỵ, tự phụ, kiêu ngạo, si mê hoặc hoài nghi. Quá nhiều thứ xảy ra trong tâm. Tôi đã thực hành với vị thầy đó rất lâu, trong 3 năm. Và tôi đã thọ giới tỳ kheo tại tu viện đó để trở thành một nhà sư. Từ đó đến nay, tôi chưa xả y. Nhưng tôi vẫn để ngõ mọi việc. Có thể một ngày nào đó, tôi sẽ xả y. Ai mà biết được? Nhưng tôi khá hạnh phúc, đúng không? Tôi đã học Kinh Đại niệm xứ với vị thầy của tôi. Bây giờ, tôi vẫn đang học hỏi, nghiên cứu và dạy Kinh Đại niệm xứ. Tôi mới đi Hàn Quốc tháng vừa rồi và ở đó 43 ngày. Tôi đã giảng pháp dựa trên bản kinh Đại niệm xứ, và cách thực hành thiền tứ niệm xứ (satipatthana).

Trong tứ niệm xứ, có bốn phần. Kayanupassana, đặt sự chú ý lên thân, tất cả mọi thứ xảy ra trên thân. Từ “meditation” không thực sự được dịch đúng nghĩa từ tiếng Pali. Nếu bạn tìm trong tự điển từ “meditation”, bạn sẽ thấy rằng trong một số trường hợp, nó có nghĩa là “suy nghĩ một cách sâu sắc”. Có nhiều sách với tựa đề là “meditation”. Có một cuốn được viết bởi một vị hoàng đế La mã, Marcus Aurelius, cũng được đặt tên là “Meditation”. Trong tiếng Anh, từ “meditation” cũng có nghĩa là suy nghĩ. Nhưng trong thiền vipassana (hay còn gọi là thiền tứ niệm xứ, thiền chánh niệm), “meditation” không phải là suy nghĩ. Nó vượt lên trên sự suy nghĩ.

Trong một số bản dịch khác (của bản kinh), chúng ta cũng thấy chữ “contemplation”, “contemplating on the body”. “Contemplation” cũng có nghĩa là suy nghĩ. Có cả một bài hát mang tên “Contemplation”. Contemplation cũng không phải là một từ đúng. Trong tứ niệm xứ, có hai từ rất quan trọng. Một từ là pajānāti. Gacchanto vā ‘gacchāmī’ ti pajānāti. Đây là một từ rất quan trọng.

Pajānāti có nghĩa là biết, không phải là suy nghĩ. Suy nghĩ và biết là hai thứ khác nhau. Bạn chỉ có thể suy nghĩ về quá khứ. Bạn không bao giờ có thể suy nghĩ về hiện tại. Bạn chẳng thể nào suy nghĩ về tương lai. Nhưng bạn có thể tưởng tượng về tương lai. Nó không thực sự là suy nghĩ. Bạn có thể suy nghĩ về quá khứ, nhưng kể cả trong trường hợp đó, bạn không thực sự suy nghĩ về quá khứ. Bạn đang tái tạo lại quá khứ. Bạn chẳng thể nào thực sự suy nghĩ được mọi chi tiết của những gì đã xảy ra vào ngày hôm qua. Bạn chỉ có thể nhớ lại một và thứ và tái tạo lại quá khứ của bạn. Bạn không thể nào suy nghĩ về hiện tại. Hiện tại rất ngắn ngủi. Bạn có thể kinh nghiệm hiện tại một cách trực tiếp, nhưng bạn chẳng thể nào suy nghĩ về nó. Giây phút bạn suy nghĩ về nó thì nó đã trở thành quá khứ rồi. Trong bản kinh, Đức Phật dạy chữ pajānāti. Từ này bao gồm pa và jā. Gốc từ là jā. Jā có nghĩa là biết. Jā và ñā có cùng chung một nghĩa. ñā và paññā lại có cùng chung một nghĩa. Nên pajānāti rất gần với từ paññā, có nghĩa là “biết một điều gì đó với trí tuệ”.

Như vậy, nếu bạn kinh nghiệm điều gì đó một cách trực tiếp mà không có suy nghĩ nào, bạn sẽ biết nó một cách trực tiếp. Ví như tôi chạm vào một thứ gì đó ở đây và tôi cảm nhận được nó lạnh. “Biết rằng nó lạnh” là pajānāti (cái biết). Nhưng khi chúng ta có được một cái gì đó, thường chúng ta sẽ cho rằng “Tôi đang chạm vào nó” (một thanh kim loại chẳng hạn). Thường thì đó là cách chúng ta hiểu. Tuy nhiên, khi thực hành thiền tập, chúng ta không suy nghĩ về thanh kim loại. Chúng ta chỉ đặt sự chú ý lên cảm giác, cảm nhận. Như vậy, không phải thanh kim loại lạnh. Mà chỉ có sự lạnh (cái lạnh, cảm giác lạnh) mà thôi. Đó là kinh nghiệm trực tiếp. Còn thứ mà bạn cho là một thanh kim loại, hay là một cái dĩa, cái tách, cái bàn, tất cả đều là paññātti (sự qui ước). Sự qui ước này cũng rất quan trọng. Bình thường thì kinh nghiệm trực tiếp của chúng ta là thực tại (tuyệt đối) – parāmaṭṭha. Nhưng ngay giây phút chúng ta kinh nghiệm được thực tại tuyệt đối parāmaṭṭha này, thì ngay lập tức chúng ta đã đổi nó thành thực tại qui ước paññātti, các khái niệm, các ý tưởng. Có rất nhiều loại thực tại quy ước paññātti khác nhau. Tên gọi là paññātti, hình dạng cũng là paññātti, các khái niệm hay các sự vật mà chúng ta đặt lại với nhau trong tâm cũng là paññātti. Căn nhà là paññātti. Nó được gọi là samuha paññātti. Nếu kéo các bức tường xuống, nếu dỡ mái nhà đi thì căn nhà ở đâu? Sẽ không còn là căn nhà nữa. Nền nhà, tường nhà, mái nhà đặt lại cùng với nhau sẽ cho bạn ý tưởng của một căn nhà. Việc đặt nhiều thứ lại với nhau này sẽ tạo nên ý tưởng (khái niệm) và được gọi là samuha paññātti.

Bạn có thể chạm vào căn nhà được không? Bạn nghĩ sao về điều đó? Bạn có thể chạm vào căn nhà được không? Không. Vậy thì bạn chạm được vào cái gì? … Vâng, vâng, chỉ là các cảm giác. Ví dụ, khi bạn chạm và một cái gì đó, bạn cảm nhận được điều gì? Vâng, lạnh, hoặc là cứng, mềm, ấm. Trong một vài trường hợp, bạn có thể cảm nhận được cả sự rung động (vật lý). Nếu vật gì đó đang di chuyển, bạn sẽ cảm nhận được nó (sự rung động vật lý). Chẳng hạn, nếu tôi chạm vào đây, bình thường tôi sẽ nói rằng tôi đang chạm vào cái khăn trải bàn. Nhưng nếu tôi chạm vào đó mà không có bất cứ một suy nghĩ gì về tên gọi hay hình dáng, thay vào đó chỉ đặt sự chú ý một cách trực tiếp lên những gì đang kinh nghiệm, vậy thì tôi đang kinh nghiệm được điều gì? Tôi đang kinh nghiệm được một thứ gì đó mềm và ấm. Đó là kinh nghiệm trực tiếp của tôi. Khi bạn hành thiền vipassana, bạn đặt sự chú ý của mình một cách trực tiếp lên những gì bạn đang kinh nghiệm mà không có bất cứ một suy nghĩ nào về nó cả.

Một cách tương tự, chúng ta thở vào, thở ra. Khi chúng ta đặt sự chú ý lên hơi thở, bình thường thì chúng ta cho rằng tôi đang thở. Nhưng khi bạn không suy nghĩ về bất cứ điều gì, chỉ đặt sự chú ý lên những gì bạn đang kinh nghiệm một cách trực tiếp, vậy thì bạn sẽ kinh nghiệm được những gì? Chỉ là những xúc chạm nhẹ nhàng. Không khí đi vào và đi ra, chạm (vào đầu mũi) một cách rất nhẹ nhàng, mềm mại. Khi không khí đi vào, nó mát. Khi không khí đi ra, nó ấm hơn. Bạn chỉ thấy được cái mát và cái ấm. Như vậy, khi bạn chú ý trực tiếp, sẽ không có hình dáng, không có tên gọi, chẳng có hình dáng hoặc tên gọi. Bất cứ loại hình dáng nào cũng đều là sự qui ước paññātti. Bất cứ tên gọi nào cũng là sự qui ước paññātti.

Thiền vipassana là đặt sự chú ý lên thực tại tuyệt đối parāmaṭṭha

Khi chúng ta thực hành thiền vipassana, chúng ta không đặt sự chú ý lên thực tại qui ước paññātti, thay vào đó chúng ta đặt sự chú ý lên thực tại tuyệt đối parāmaṭṭha, có nghĩa là những gì là thật, những gì chúng ta kinh nghiệm một cách trực tiếp. Khi đặt sự chú ý lên những gì kinh nghiệm trực tiếp được, bạn sẽ thấy rằng kinh nghiệm đó chẳng phải là một vật gì cả. Nó chỉ là một tiến trình. Nó luôn luôn thay đổi. Nó sinh và diệt. Nó khởi sinh bởi vì có đủ nguyên nhân để khởi sinh. Nó chẳng phải là một người đàn ông hay đàn bà. Những gì bạn kinh nghiệm trực tiếp chỉ là các cảm giác thuần tuý trên thân của mình.

Bạn có thể chạm vào một người đàn ông không? Thông thường, chúng ta nghĩ rằng chúng ta có thể chạm và một người đàn ông hay một người phụ nữ. Chúng ta chẳng thể nào chạm vào họ. Bởi vì khi bạn đến gần và chạm vào, những gì bạn cảm nhận được chỉ là sự mềm mại. Bạn chỉ có thể chạm vào sự mềm mại đó mà thôi. Và bạn cảm nhận được sự ấm. Bạn chỉ có thể chạm vào sự ấm đó mà thôi. Và ở một vài chỗ, bạn có thể cảm nhận được các sự dịch chuyển. Như vậy, bạn chỉ có thể chạm vào các sự dịch chuyển. Chứ bạn chẳng thể nào chạm vào được một người đàn ông. Nó ở đâu? Người đàn ông đó ở đâu? “Người đàn ông” là ý tưởng (khái niệm) bạn có được từ hình dáng. Khi bạn bỏ đi, không chú ý vào hình dáng, mà đặt sự chú ý một cách trực tiếp lên cảm nhận của bạn, bạn sẽ cảm nhận được “nó” thực sự là cái gì. Khi thực hành thiền vipassana, chúng ta đặt sự chú ý lên kinh nghiệm trực tiếp. Và nếu bạn có thể giữ tâm mình ở đó, bạn sẽ biết rằng đây chẳng phải là một người đàn ông, chẳng phải là một người phụ nữ. Đó chỉ là các cảm giác thuần tuý. Nó là tự nhiên. Nó sinh lên và diệt đi.

Cũng tương tự như vậy, khi bạn đặt sự chú ý lên các cảm giác, bất cứ loại cảm giác nào trên thân, dễ chịu hoặc không dễ chịu, khi bạn trực tiếp đặt sự chú ý mà không có bất cứ suy nghĩ nào về nó, bạn sẽ thấy rằng nó chỉ là những cảm giác thuần tuý. Một cảm giác dễ chịu không phải là một người đàn ông hay phụ nữ nào cả. Khi bạn tự cấu vào da mình, nó sẽ đau. Cái đau đó có phải là một người đàn ông không? Cái đau đó chẳng phải là một người đàn ông. Nhưng bạn có thể nghĩ rằng: “Tôi đang cảm nhận được cái đau.” Như vậy, “tôi” là người đàn ông đang cảm nhận được cái đau. Bạn hình thành ý tưởng như vậy. Nhưng nếu bạn chỉ chú ý trực tiếp lên cái đau, bạn sẽ thấy rằng đó là cái đau. Chỉ thế thôi. Chẳng phải là đàn ông hay phụ nữ. Đó là những gì chúng ta làm khi hành thiền. Chúng ta không suy nghĩ về nó, chúng ta đặt sự chú ý trực tiếp lên nó.

Ở trong tâm cũng như thế, chúng ta suy nghĩ nhiều thứ. Nếu chú ý kỹ lưỡng tới các suy nghĩ, bạn sẽ thấy rằng đó chỉ là những suy nghĩ. Suy nghĩ thì giống như là việc bạn đang nói mà không phát ra âm thanh. Khi suy nghĩ, các từ ngữ xuất hiện trong tâm của bạn. Từ ngữ đại diện cho các ý tưởng. Do bởi các ý tưởng, từ ngữ khiến bạn cảm nhận một điều gì đó. Nếu tôi nói bằng tiếng Miến Điện và nếu bạn không hiểu tiếng Miến Điện, bạn sẽ chỉ nghe được các âm thanh. Bạn sẽ không hiểu ý nghĩa của lời nói. Vì vậy, nó sẽ không làm bạn vui hay không vui. Nhưng nếu hiểu được ý nghĩa của lời nói, nó sẽ khiến bạn vui hoặc không vui.

Nếu tôi gọi bạn bằng một cái tên xấu xí trong tiếng Miến Điện và nếu bạn chẳng hiểu ý nghĩa của nó, liệu bạn có trở nên khó chịu không? Nhưng nếu tôi gọi bạn bằng một cái tên xấu xí trong tiếng Anh, bạn sẽ khó chịu. Vậy thì điều gì làm bạn khó chịu, là thực tại tuyệt đối parāmaṭṭha hay là thực tại qui ước paññātti? Đó là thực tại qui ước paññātti đã làm bạn khó chịu, chứ không phải là thực tại tuyệt đối parāmaṭṭha. Âm thanh chẳng làm bạn khó chịu. Khi nghe một âm thanh chói tai, bạn sẽ không thích tiếng ồn đó, và rồi bạn trở nên khó chịu. Nhưng thông thường thì khi bạn nghe một ai đó nói, âm thanh không phải là một thứ gì đó không dễ chịu. Và nếu một ai đó nói một điều dễ chịu về bạn, bạn sẽ rất vui. Khi bạn nghe một ai đó nói rằng: “Tôi yêu bạn.” À, bạn sẽ cảm thấy rất vui. Ừ, người ta nói: “Tôi yêu bạn.” Nhưng khi một ai đó nói rằng: “Tôi ghét bạn”, bạn sẽ khó chịu. Như vậy, thực tại qui ước paññātti khiến cho bạn vui hoặc không vui. Còn thực tại tuyệt đối parāmaṭṭha thì chỉ là trung tính. Nó chẳng làm bạn vui hoặc không vui. Do đó, khi đặt sự chú ý lên thực tại tuyệt đối parāmaṭṭha, tâm của bạn sẽ trở nên trung tính. Nó không vui, không buồn. Khi bạn không suy nghĩ gì, tâm của bạn trở nên định tĩnh và yên lặng, và bạn có thể chú ý một cách kỹ lưỡng. Khi đó, bạn sẽ thấy có một thứ gì đó khởi sinh và rồi diệt đi. Chẳng có ai ở đó cả. Đó là những gì chúng ta làm khi hành thiền.

Tại sao chúng ta cần đặt sự chú ý lên thực tại tuyệt đối parāmaṭṭha?

Tại sao chúng ta cần làm điều đó? Vâng, để thanh lọc tâm mình. Bằng cách đặt sự chú ý lên bất cứ thứ gì đang xảy ra trên thân và trong tâm chúng ta mà không có bất cứ một suy nghĩ nào về nó, chúng ta sẽ thấy được thực tại. Do đó, tâm sẽ không trở nên tham lam, giận dữ, hoặc bất cứ trạng thái tâm bị ô nhiễm nào. Để thanh lọc tâm, chúng ta phải đặt sự chú ý lên thân và tâm mình mà không có suy nghĩ nào. Bởi vì, thứ đầu tiên mà chúng ta bị dính mắc rất kiên cố đó là thân và tâm của mình. Chúng ta dính mắc rất nặng nề với thân và tâm của mình. Từ đó, chúng ta cũng trở nên dính mắc với thân và tâm của người khác và những thứ bên ngoài. Bằng cách đặt sự chú ý lên thân và tâm mình, chúng ta có thể thấy rằng thân và tâm chỉ là những tiến trình. Thân cũng là tiến trình, tâm cũng là tiến trình. Chẳng có ai ở đó cả. Có một cuốn sách được viết bởi một tác giả người Mỹ. Tên ông ấy là Mark Epstein. Tựa của cuốn sách rất thú vị – Suy nghĩ mà không có người suy nghĩ (Thought without a thinker). Một cách thông thường thì chúng ta nghĩ rằng: “Tôi đang suy nghĩ.” Nhưng nếu thật sự quan sát được suy nghĩ của mình, bạn sẽ thấy rằng suy nghĩ cứ sinh lên và diệt đi. Chẳng có người suy nghĩ.

Có một nhà triết gia rất nổi tiếng người Pháp đã đặt nền tảng cho hệ thống triết lý của ông ấy dựa trên một tiền đề rất quan trọng. Có ai biết ông ấy là ai không? “Tôi suy nghĩ, do đó tôi tồn tại”. Vâng, ông ấy đã nói như vậy. Đó là một phát ngôn rất nổi tiếng. Ông ấy bảo rằng: “Tôi suy nghĩ, do đó tôi tồn tại” nghĩa là “suy nghĩ” là một thứ mà “tôi” đang làm. Nghĩa rằng, chắc chắn có cái “tôi”, bởi vì đã có suy nghĩ. Ông ấy cố gắng chứng minh rằng có một cái “tôi” bằng cách đưa ra bằng chứng nói rằng “tôi suy nghĩ”. Như vậy là trước khi chứng minh rằng có một cái “tôi”, bạn đã cho rằng có một cái “tôi” đang suy nghĩ. Đó là một tiền đề sai. Bạn không thể xác nhận một điều gì đó, trước khi kết luận rằng nó tồn tại. Ông ấy nói rằng: “Tôi suy nghĩ, do đó tôi tồn tại.” Về mặt triết học, điều đó là sai. Bởi vì trước khi bạn chứng minh “tôi tồn tại”, bạn đã cho rằng “tôi suy nghĩ”. Một cách hợp lý thì bạn không thể nói như vậy được.

Như vậy ngay cả về mặt triết lý, những gì bạn thấy được chỉ là có sự suy nghĩ. Chúng ta chỉ có thể nói rằng có sự suy nghĩ. Chúng ta không thể nói rằng: “Tôi suy nghĩ, do đó tôi tồn tại.” Chỉ bởi vì có sự suy nghĩ thì chẳng phải là bằng chứng nói rằng có một người nào đó đang suy nghĩ. Và bạn có thể tự mình thấy được điều đó, nếu bạn hành thiền vipassana theo pháp niệm tâm (cittānupassanā). Xem xét một cách kỹ càng các suy nghĩ, chúng khởi sinh và rồi diệt đi. Khi quan sát suy nghĩ của mình, một vài lúc bạn sẽ thấy rằng suy nghĩ đang tự khởi sinh. Bạn còn chẳng hề biết về điều đó. Bạn không tạo ra các suy nghĩ. Nhưng một vài lúc khác, bạn cảm thấy là bạn đang cố gắng suy nghĩ về một điều gì đó. Trong trường hợp này, bạn cảm thấy rằng bạn đang suy nghĩ. Nhưng kể cả trong trường hợp đó, bạn có thể bước lùi lại và quan sát suy nghĩ. Bạn sẽ thấy rằng, đó là một suy nghĩ, chỉ là một suy nghĩ.

Bất cứ khi nào chúng ta quan sát một điều gì đó, chúng ta cần bước lùi lại. Chúng ta tạo một khoảng cách và xem xem điều gì đang xảy ra. Bất cứ thứ gì mà bạn có thể quan thì sát được thì nó không phải là bạn. Như vậy, nếu bạn có thể quan sát cơ thể của bạn, bạn có thể thấy rằng tôi đang quan sát cơ thể của tôi. Ít ra là bạn có thể thấy điều đó một cách thông thường. Nếu bạn có thể thấy “tôi đang quan sát cơ thể của tôi” thì “tôi” là một thứ và “cơ thể của tôi” là một thứ khác. Cơ thể của bạn có nghĩa là bạn sở hữu cơ thể đó. Đó là sự sở hữu của bạn. Nhưng nó chẳng phải là bạn. Ví như, đây là cuốn sách của tôi, nhưng đó chẳng phải là tôi. Đó là cuốn sách của tôi. Bất cứ khi nào bạn nói rằng bạn đang quan sát điều này, bạn đang tạo ra một khoảng cách. Cũng tương tự như vậy, khi quan sát suy nghĩ của mình, bạn tạo ra một khoảng cách và bạn có thể thấy rằng suy nghĩ không phải là bạn. Nhưng khi hành thiền, đôi lúc bạn cảm thấy rằng tôi đang hành thiền. Tôi đang quan sát. Và khi bạn quan sát tâm mình một lần nữa, bạn có thể thấy rằng ngay cái cái tâm quan sát cũng chỉ là một cái tâm đang quan sát. Đó là một phần của việc hành thiền. Khi bạn có thể làm điều đó, nó trở thành pháp hành mà chúng ta gọi là niệm pháp (dhammānupassanā).

Như vậy, chúng ta thực hành niệm thân kāyānupassanā, quan sát cơ thể. Chúng ta thực hành niệm thọ vedanānupassanā, quan sát các cảm giác. Chúng ta thực hành niệm tâm cittānupassanā, quan sát các suy nghĩ. Và chúng ta quan sát luôn cả sự nhận biết. Chúng ta cũng quan sát cả sự quan sát. Nếu bạn có thể quan sát sự quan sát, nó trở thành niệm pháp dhammānupassanā. Khi đó, bạn có thể thấy rằng, lúc ban đầu bạn nghĩ rằng “tôi đang ngồi và tôi đang hành thiền. Tôi đang làm việc chăm chỉ.” Okay, cứ tiếp tục hành thiền. Rồi sẽ đến một thời điểm mà bạn thấy rằng chỉ có sự nhận biết đang biết về bất cứ thứ gì đang khởi sinh. Sự nhận biết là biết về một điều gì đó đang khởi sinh, cho dù đó bất cứ là điều gì. Và bạn cũng có thể quan sát cả sự nhận biết đó nữa. Nhận biết rằng đang biết về sự biết. Bạn có thể thấy rằng đó cũng chỉ là sự biết. Chẳng có ai đang hành thiền nữa. Khi bạn hành thiền, bạn sẽ đi đến thời khắc đó, khi mà bạn sẽ vượt qua luôn cả cái cảm giác rằng “tôi đang hành thiền”. Nếu bạn chưa thể làm được điều đó, có nghĩa là bạn chưa đạt đến thời khắc đó, khi đó bạn sẽ vẫn cảm nhận rằng “tôi đang hành thiền và tôi đang có tiến triển. Tôi đã đạt đến tầng thiền này, hay tầng thiền kia.” Bạn cảm thấy rất tự hào về việc hành thiền của mình. Sự tự hào đó cũng là sự ô uế trong tâm. Rồi bạn sẽ so sánh cả thành tựu của bạn với một ai đó và nhận xét rằng “anh ấy chỉ là thiền sinh mới, tôi là thiền sinh lâu năm, tôi đã đạt được một số thành tựu (trong thiền)”. Đó là sự tự phụ hay kiêu ngạo.

Nhưng nếu bạn có thể quan sát cái tâm quan sát đó và thấy được rằng nó chỉ là cái tâm quan sát đang quan sát, chỉ có cái biết đang biết bất cứ điều gì đang khởi sinh và rồi diệt đi, khi đó, sẽ chẳng có gì để đồng hoá với. Bạn sẽ cảm thấy nhiều tự do hơn. Việc hành thiền của bạn trở nên thuần khiết. Nếu bạn cảm thấy rằng “tôi đang hành thiền”, mặc dù nó vẫn sẽ mang lại những kết quả tuyệt vời nhưng tâm bạn vẫn chưa được thanh tịnh. Chỉ khi nào vượt qua được cảm giác rằng “tôi đang hành thiền”, khi đó việc hành thiền của bạn mới trở nên thực sự thuần khiết, trong trẻo. Trong tiếng Pali, điều này được gọi là sankhara (pháp hữu vi) quan sát sankhara. Ngay cả cái tâm quan sát, ngay cả cái tâm hành thiền cũng là pháp hữu vi, có nghĩa là các hiện tượng nhân duyên. Tâm hành thiền cũng chỉ là một hiện tượng nhân duyên. Nó khởi sinh và diệt đi. Bạn cũng có thể thấy rằng sự nhận biết cũng sinh ra và diệt đi. Nó là vô thường.

Khi thực hành như vậy, bạn sẽ trở nên hoàn toàn buông xả. Bạn sẽ không còn dính mắc với ngay cả việc hành thiền nữa. Khi bạn đến giai đoạn đó, việc hành thiền trở nên dễ dàng hơn nhiều. Nó xảy ra một cách tự nhiên.

Chánh niệm (sammasati)

Chúng ta được sinh ra với phẩm chất mà chúng ta gọi là sự nhận biết. Tiếng Pali gọi là sati. Sati có nhiều nghĩa. Nó cũng có nghĩa là không quên. Nó cũng có nghĩa là chú ý, là nhớ. Nhớ về điều gì? Nhớ những gì đang xảy ra tại thời điểm hiện tại. Không quên, chú ý. Trong từ satipatthana, sati có nghĩa là không quên, patthana có nghĩa là rất vững, rất chắc chắn, được thiết lập vững vàng. Khi hành thiền, chúng ta gieo trồng phẩm chất này, sati, sao cho nó trở nên rất vững vàng và chắc chắn. Khi quan sát một điều gì đó, chúng ta có thể quan sát nó một cách liên tục. Tuỳ theo cách mà bạn thực hành, thời gian bạn thực hành hoặc bạn thực hành tốt đến thế nào, bạn có thể quan sát một thứ gì đó liên tục, đôi khi hàng giờ đồng hồ. Bình thường thì chúng ta chẳng chú ý một điều đó quá vài giây. Nhưng tất cả mọi người chúng ta được sinh ra với phẩm chất này, sati. Bởi vì, nếu không có sati, chúng ta không thể sống cuộc sống thường nhật của mình.

Ví dụ, khi đang lái xe, đến ngã tư và thấy đèn đỏ, bạn nhận biết được điều đó. Bạn biết rằng đèn đã chuyển sang đỏ. Điều gì sẽ xảy ra nếu bạn không nhận biết được điều đó nhỉ? Bạn sẽ gặp tai nạn. Bạn có thể bị thương hoặc chết, hoặc là bạn làm hại người khác trên những chiếc xe đang cùng lưu thông. Như vậy, ngay cả trong cuộc sống thường nhật, chúng ta có sự nhận biết. Chúng ta không thể sống mà không có sự nhận biết. Nếu không có sự nhận biết, chúng ta chẳng thể nào sống cuộc sống thường ngày của chúng ta được. Chúng ta cũng chẳng thể nào đọc được ngay cả một câu văn, nếu không có sự nhận biết, không có sự tập trung. Chúng ta phải tập trung tâm mình lên những gì chúng ta đang đọc và chúng ta phải chú xem ý nghĩa của nó là gì. Chỉ khi đó, chúng ta mới hiểu được ý nghĩa của câu văn. Bây giờ, bạn đang lắng nghe tôi nói. Tôi nói rất nhiều, rất nhanh. Nhưng bạn biết tôi đang nói gì, bởi vì bạn đang chú ý. Bạn đang tập trung lên những điều tôi nói. Bạn đang tập trung nghĩa là đang có một tâm định, sự tập trung (samadhi). Và bạn cũng biết được điều mà tôi đang cố gắng diễn đạt. Bạn hiểu được ý nghĩa. Đó cũng là một loại chú ý, nhận biết. Do đó, bạn hiểu được điều tôi nói. Đó là sự nhận biết (sati) và sự tập trung (samadhi) thông thường. Trong cuộc sống thường ngày, chúng ta đã có sati và samadhi. Bây giờ, chúng ta cần phải gieo trồng các phẩm chất tâm này lên một tầng mức cao hơn. Khi đó, nó sẽ trở thành sammasati (chánh niệm) và sammasamadhi (chánh định). Vậy sự khác nhau giữa chánh niệm và sự nhận biết thông thường là gì?

Chánh niệm có nghĩa là sự nhận biết đúng đắn. Tại sao chúng ta lại gọi nó là sự nhận biết đúng đắn? Chúng ta gọi nó là sự nhận biết đúng đắn bởi vì điều đó sẽ dẫn đến sự hiểu biết đúng đắn. Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thấy đèn giao thông đổi sang màu đỏ. Đó cũng là sự nhận biết. Nhưng nó lại không dẫn đến sự giải thoát về tâm trí. Sự nhận biết thông thường đó chỉ có thể giúp chúng ta tránh khỏi bị tai nạn giao thông. Chúng ta dừng xe lại. Nó rất hữu ích. Nhưng nó không dẫn đến sự giác ngộ. Bởi vì chúng ta đang hoạt động trong thế giới qui ước, thế giới paññātti. Paññātti hay thực tại qui ước cũng rất quan trọng. Chúng ta cần phải hiểu paññātti, cần phải hiểu thực tại qui ước. Và sử dụng hiểu biết đó một cách trí tuệ. Nhưng chúng ta cũng cần phải hiểu rằng thực tại qui ước đó không phải là sự thật tuyệt đối.

Hai mức độ của sự thật

Chúng ta sống và hoạt động ở hai mức độ khác nhau của sự thật. Một mức độ của sự thật chúng ta gọi là sự thật qui ước, sammuti-sacca. Một mức độ sự thật khác chúng ta gọi là sự thật tuyệt đối, paramattha-sacca. Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta sống trong thực tại qui ước. Tôi ở đây, là một vị sư. Một vị sư là một thực tại qui ước. Nếu tôi cởi bỏ y á và mặc áo thun và quần dài vào, liệu bạn có còn gọi tôi là một vị sư nữa không? Không. Như vậy, một vị sư là một vị sư bởi vì cách mà tôi ăn mặc, bởi vì lối sống của tôi. Đó là một sự qui ước. Nhưng chỉ bởi vì nó là qui ước không có nghĩa là nó không hữu ích, không quan trọng, hay không có giá trị. Là một nhà sư là rất quan trọng đối với tôi. Nó rất quan trọng. Tôi đã dành toàn bộ cuộc đời của mình để là một nhà sư.

Ý tôi là chúng ta cần phải hiểu tầm quan trọng của thực tại qui ước. Và chúng ta cũng cần phải hiểu thực tại tuyệt đối, paramattha-sacca, nữa. Bởi vì, việc hiểu thực tại qui ước giúp chúng ta sống cuộc sống bình thường một cách đúng mực. Nhưng nó lại không thực sự làm cho tâm trí của chúng ta tự do và hạnh phúc. Do bởi các qui ước, chúng ta rất hạnh phúc. Rồi chúng ta bị mắc kẹt luôn trong các qui ước. Chúng ta bị mắc kẹt trong paññātti. Thầy của tôi đã dạy tôi nhiều lần rằng chúng ta bị mắc kẹt trong từ ngữ. Hãy hành thiền để vượt lên trên cả từ ngữ, vượt lên trên sự qui ước của từ ngữ. Có rất nhiều loại paññātti khác nhau. Ban đầu, lúc nghe thầy dạy như thế, tôi đã không hiểu được điều mà thầy thực sự dạy. Bởi vì nó quá sâu sắc. Rồi bất cứ khi nào tôi quan sát tâm mình, tôi thấy rằng tôi đang suy nghĩ về một ý tưởng nào đó, về một khái niệm nào đó. Bất cứ khi nào tôi cảm thấy không vui, tôi nhận ra rằng có một suy nghĩ nào đó làm tôi không vui. Suy nghĩ trong tâm làm tôi vui hoặc không vui.

Điều gì sẽ xảy ra nếu bạn vượt lên trên được luôn mọi sự phê bình, mọi chỉ trích, vượt lên trên mọi ý nghĩ và chỉ đặt sự chú ý lên bất cứ thứ gì đang xảy ra? Nếu cứ thực hành liên tục, bạn sẽ đi đến khoảnh khắc đó, khi bạn dừng lại được luôn sự hình thành bất cứ ý nghĩ nào về kinh nghiệm của bạn, kể cả sự đau đớn. Một đôi lúc, chân hoặc lưng bạn rất đau khi ngồi thiền. Lúc mới hành thiền, bạn có thể suy nghĩ rằng: “Ồ, tôi đang đau, tôi đang đau, chân tôi đang đau.” Và bạn không vui vì điều đó. Nhưng bạn vẫn tiếp tục hành thiền, và đến một thời điểm, bạn tạo được một khoảng cách để bạn có thể thấy cái đau chỉ là cái đau mà không có “tôi” (tôi đang đau) ở trong đó. Không có cái “tôi”, chỉ có cái đau. Nó (việc hành thiền) trở nên rất hứng thú. Nó trở thành một kinh nghiệm tuyệt vời đến sửng sốt. Ngay cả cái đau cũng trở nên hứng thú và tuyệt vời.

Một đôi lúc, khi hành thiền, tôi tự hỏi bản thân mình rằng, vậy đau là cái gì? Chẳng đơn giản chút nào để trả lời câu hỏi đó. Khi chú ý một cách kỹ lưỡng lên cái đau và hỏi câu hỏi đó, bạn sẽ thấy rằng thật khó để trả lời. Mặc dù bạn cảm nhận được cái đau, nhưng nếu bạn không phản ứng lại với cái đau, nếu bạn không có ý nghĩ rằng không thích cái đau này, nếu bạn quan sát cái đau với sự bình thản, khi đó bản chất của cái đau sẽ thay đổi. Nhiều bạn bè của tôi đã kể rằng, khi họ quan sát cái đau, tâm của họ rất định tĩnh và bình an. Họ rất hạnh phúc. Một cách tự nhiên, thông thường khi chúng ta cảm nhận cơn đau, chúng ta sẽ cảm thấy không vui. Nó sẽ làm chúng ta không vui. Nhưng khi bạn hành thiền vipassaana và thấy rằng đau chỉ thuần tuý là cái đau mà không có một người nào ở đó, cái đau sẽ trở nên rất hứng thú và không làm bạn không vui.

Khi lần đầu tiên kinh nghiệm được điều đó, tôi đã nhớ đến một lời dạy của Đức Phật. Đúng trong khoảnh khắc đó, tôi đã hiểu được rằng, nó quan trọng đến nhường nào. Đức Phật đã dạy điều này cho một cụ ông có tên là Nakulapita. Con gái của ông ấy tên là Nakula. Nên ông ấy được gọi là cha của Nakula (Nakulapita). Đôi lúc, người ta không gọi tên một người, mà thay vào đó gọi là cha của anh này, cô nọ, đặc biệt là trong trường hợp con gái hoặc con trai của người ấy là một người nổi tiếng. Đức Phật đã dạy rằng: “Aturakayassa me sato cittam anaturam bhavissati”. “Mặc dù thân thể của ta đang đau đớn, tâm của ta sẽ chẳng đau đớn.” Đó là những gì chúng ta cần thực hành. Khi hành thiền và đạt đến mức độ này, khi chúng ta dừng việc đánh giá, phê bình, hay hình thành nên các ý nghĩ lại và chỉ thuần tuý quan sát, mặc dù chúng ta cảm nhận được sự đau đớn trên thân thể, tâm của chúng ta vẫn ở trạng thái rất định tĩnh và bình an. Tôi đã hiểu được rằng, lời dạy này rất quan trọng. Chúng ta có thể tự huấn luyện bản thân mình để mặc dù thân thể đang đau đớn, nhưng tâm thì không. Khi thấy được điều đó, tôi đã rất hạnh phúc và một cách nào đó rất nhẹ nhàng. Nhiều lần tôi bị bệnh rất nặng, đã đến rất gần với cái chết. Bất cứ khi nào lâm bệnh như thế, tôi nhớ đến lời dạy này của Đức Phật và hành thiền vipassana. Rồi nỗi sợ của cái đau hay cái chết sẽ biết mất. Nó không khởi sinh nữa. Có một thời điểm, tôi nghĩ rằng tôi thực sự đang chết và tôi đã sẳn sàng cho việc đó. Chết cũng okay thôi mà.

Bạn sẽ làm gì khi bạn đang chết đi? Nếu bạn suy nghĩ về bất cứ điều gì làm bạn khổ sở, nếu bạn nghĩ rằng tôi đang chết, điều đó sẽ khiến bạn khốn khổ. Nếu bạn nghĩ rằng, “ồ tôi đang mất đi mọi thứ, những người tôi thương yêu, mọi thứ mà tôi có”, bạn sẽ khổ sở. Nếu bạn nghĩ về điều gì sẽ xảy ra khi mình chết đi, điều gì sẽ xảy ra trong cuộc sống kế tiếp, bạn cũng sẽ khổ sở. Học để sống và cũng cần phải học để chết. Chúng ta sống cuộc đời chúng ta với sự sợ hãi, sống với sự bất an. Đó là bởi do chúng ta quá dính mắc với nhiều thứ: thân thể của chúng ta, tuổi trẻ của chúng ta, vẻ bề ngoài của chúng ta, của cải của chúng ta, người thân của chúng ta. Là okay khi có sự thương yêu và biết ơn đối với những gì chúng ta có. Tôi rất biết ơn cơ thể của tôi. Tôi chăm sóc kỹ càng cơ thể của tôi. Tôi biết ơn tất cả bạn bè của tôi và gia đình của tôi. Bởi vì họ thương yêu tôi và làm bất cứ điều gì có thể cho tôi. Nhưng yêu và biết ơn là một chuyện, dính mắc với cơ thể, dính mắc với một ai đó hay dính mắc với của cải lại là một chuyện khác. Chúng ta phải học để thương yêu và biết ơn. Ở đây, chữ “yêu” có nghĩa là metta (tâm từ). Bởi vì kể cả chữ “yêu” cũng bị sai lạc đi. Khi tôi sử dụng từ “yêu” (love) ở Mỹ, nhiều bạn bè của tôi đã bảo rằng: “Không, không, không, đừng sử dụng từ đó. Giờ nó đã trở thành một từ xấu.” Tôi đã hỏi lại: “Tại sao? Tại sao lại như thế? Vậy thì tôi cần phải dùng chữ gì?” Chẳng đơn giản tí nào nữa. Rồi chúng tôi đặt một số từ lại với nhau, loving-kindness (tâm từ), để cho nó khác đi với loại yêu thương thông thường.

Chúng ta đang sống với quá nhiều sự bất an, với quá nhiều sự sợ hãi. Mặc dù chúng ta có thể không nhận biết được sự sợ hãi và bất an trong mình, nó luôn ở đằng sau tâm mình trong mọi lúc. Luôn có một loại bất an nào đó, nỗi lo sợ bị mất bất cứ một thứ gì mà bạn có.

Vậy thì làm sao để sống cuộc sống của bạn mà không có bất cứ sự sợ hãi hay bất an nào? Làm sao để sống cuộc sống đó? Bạn cần phải học để sống như vậy. Bạn cần phải học để sống với sự thanh thản, với sự bình yên, với niềm vui, với sự biết ơn mà không có sợ hãi trong đó. Nếu bạn học được cả hai thực tại, ý tôi là thực tại qui ước (sammuti-sacca) và thực tại tuyệt đối (paramattha-sacca), cả hai, thì bạn có thể học được cách để sống như vậy (không có sự sợ hãi). Thực tại qui ước nghĩa là bạn ở đó và tôi ở đây. Đó là thực tại qui ước. Thực tại tuyệt đối có nghĩa là chỉ có các tiến trình thân và tâm. Chẳng có ai cả. Nếu bạn có thể học được cả hai cách sống (theo thực tại qui ước và tuyệt đối) thì khi cần bạn sẽ sống với mọi người theo qui ước, ở mức thực tại bình thường. Những lúc khác, nếu cần, bạn lại chuyển tâm sang thực tại tuyệt đối. Rồi bạn thấy rằng chẳng có ai ở đó cả. Chảng có gì để phải lo lắng và sợ hãi cả. Bạn cần phải học để sống trong cả hai mức độ của thực tại này. Đức Phật đã không bác bỏ thực tại qui ước. Đức Phật đã dạy chúng ta cách để sống một cuộc sống bình thường, lành mạnh và thiện. Đức Phật đã dạy cách để chúng ta sống một cuộc sống hạnh phúc. Có người đã đến gặp Đức Phật và hỏi rằng: “Bạch Ngài, chúng con muốn sống với gia đình mình, chúng con muốn có các trang sức, vàng bạc và mọi thứ. Chúng con muốn tận hưởng và chúng con muốn được hành phúc. Có cách nào để làm điều đó không ạ?” Đức Phật đã trả lời rằng: “Có”. Bạn có muốn nghe câu trả lời không? Sống một cuộc sống tử tế và đức hạnh. Và như vậy, mặc dù bạn có mọi thứ, gia đình và của cải, bạn vẫn có thể sống một cách hạnh phúc. Và kể cả khi vợ của bạn ra đi (khỏi cuộc sống này), bạn vẫn có thể buông xả được (cả sự mất mát đó).

Understand the universal law, the truth to liberate the mind and become freedom

Here is one thing that I want to mention. We are in the presence of universal law. We must understand universal law. The teachings of the Buddha is universal law. We call that Buddhism. So, sometimes I ask a very unusual question. And the question is, “What is the religion of the Buddha?” When you ask somebody, “What’s your religion”. You say, oh, Buddhism. But if you ask the question, “What is the religion of the Buddha?” How will you answer? …

Did Buddha has a religion? Well, there’s a very interesting incident. Just after Buddha became enlightened, he can reflect on many things. But one thing he was reflecting on it. Just after he became enlightened, he asked himself, “Is there anybody to whom I can be respectful and leave (for)?” And you can see, you can find that in Samyutta Nikaya. But the book is not the truth. But anyway, when I read that, I felt very surprised. Buddha, a fully enlightened Buddha, looking for somebody he could be a disciple. Why? But, Buddha look for that person, that kind of person to whom he can be respectful and didn’t find anybody. Because he couldn’t find anybody who was more developed in sila (moralities), samadhi (concentration) and panna (wisdom) than himself. And then Buddha said, “Well, there’s nobody who is more developed in sila, samadhi and panna. Therefore, I must live my life respectful of dhamma”.

So, that story, that gave me a lot to think about. And it also changed me totally. Because I had a very…, how to explain… terrible kind of pride? To say, I don’t know how to say this. It was very difficult for me to be respectful of anybody. I appreciated my parents. I appreciated my teacher too. But I’ve never trusted them. I appreciated people for what they had done for me. They had done a lot of good things for me. But I never trusted anybody, not my parents, not my teachers. Because since very young, I noticed that they didn’t know the truth. Sometimes, they told me many things that were not true. So I thought, well, they may have very good intentions, but they don’t know the truth. And sometimes I thought I knew better than they do. They don’t know as much as I do. So, I had a kind of pride also, and also a kind of distrust, a suspicion. People are kind to each other. But nobody knows the truth. That’s… that was what I felt very deeply for a long, long time. Until I was about 25 I think, I lived with that kind of attitude. I cannot trust anybody. “I cannot trust” means people are kind to me and they are not cheating me. It’s okay. But they don’t know the truth. Therefore, in that sense I cannot respect them. And when I read about the Buddha who became enlightened and he was looking for somebody to whom he can be respectful. It gave me a big shock. And it really, it really showed how conceited I was. So I thought it is very important to have somebody to whom you can trust and respect. It is very important. But Buddha said that in (the) story, to live your life without anybody you can trust and respect is very painful. That’s what Buddha said. Then, I really felt that. Well, Buddha said that in the text… then I thought this is true, this is true. I live, I’ve been living my life without respectful to anybody, without trusting anybody.

And I know that I was not at peace. But how can I find anybody with whom I can trust? How can I know that somebody really knows the truth? It is not that easy. But anyway, I became more humble after reading that. And then Buddha, Buddha said that “I think I cannot find anybody to whom I can be respectful, I must live my life respectful of the dhamma”. So I thought, oh, you need somebody you can be, you can trust and respect. And also you need some law of nature, some truth, law of nature by which you can live your life. So what? How am I living my life? What’s my principles? What’s my values? What am I living for? So I started asking myself these questions. Then gradually, by practicing meditation also, I found some things, some truths, very simple truths that I feel that, I feel sure this is true. And to know that something is true gives me a lot of relief.

So, (the) truth makes you free. Somebody said that maybe it was Plato or Aristotle or somebody like that, one of the two said that. Truth shall make you free. So, when I found the truth about the dhamma by practicing meditation, I felt great relief. I told myself that now I knew something which is true. And also, when I watched my mind, I saw wholesome states of mind in unwholesome states of mind. When I was younger, I did not believe in wholesome or unwholesome. I thought, all these are arbitrarily conventions. You can say something is good or bad. It depends on you. It depends on who says that. But when you meditate and watch your mind and when your mind becomes really calm and pure and quiet, whatever thoughts appears in your mind, you see it very clearly. You see the nature of it. You see that whenever your mind is not pure, whenever there’s unwholesome mind, it is very painful. And you can also feel that it is impure, impurity. And whenever the mind is pure, you can feel that purity, too. It’s not something you imagine. You can really feel it.

So, when I see wholesome and unwholesome mental states in my mind, by watching my mind and see the difference and knowing that this is not what I’m imagining, this is real, this is true, then it also gave me a kind of relief. Now, I know what is wholesome and unwholesome. So, you must find out from your own experience what is wholesome and what is unwholesome. We don’t need to believe anybody. And just believing somebody doesn’t really make you feel how important it is not to do unwholesome. Even though conventionally, even though you read in the books that this is unwholesome, you still go on doing unwholesome things. Why? Because you don’t really feel it.

When you really feel it, then you don’t want to do it anymore. You don’t, you know that it’s not worth doing it. And once you have done something unwholesome, whenever you remember that again, it gives you pain. It never makes you happy. And that pain and that unhappiness is also a kind of prison. So, any unwholesome deeds makes you feel unfree. Any wholesome deed, it helps you become free. So the teachings of the Buddha, the purpose, the real purpose, the ultimate purpose of the teachings of the Buddha is to make you free, to let you free. So, if you really want to become free, you must really see in your own mind directly what is wholesome and what is unwholesome. So, even in practicing sila, like I mentioned before, you know that it is not wholesome to kill, so you don’t kill. And sometimes people don’t kill because they are afraid that if you kill, then you will be killed. And because you are afraid of being killed, you don’t want to kill. And your motivation of not killing is fear. But when you see that I have fear, if somebody come and kill me, I don’t want that, I don’t like that. It’s painful. And that other person or the other beings, maybe an animal, also is the same as me. There’s not much difference. So you have compassion for the other beings. And because of compassion, we don’t kill. So, if you don’t kill because of compassion, then your motivation is positive. It’s not fear. It’s compassion.

So, when I do something, I watch my mind and ask myself, why am I doing this? What is my motivation? Is my motivation negative or positive? And normally, it’s negative. Before you become positive, you’re negative. But even when I help somebody, I give something to somebody, I watch my mind and I ask myself, “Why am I helping this person?” Why am I giving this to him or to her? In many cases, I was hoping that, well, if I do this for this person, he or she will like me. At least I wonder, at least I expect that he or she will like me. He or she will be friendly towards me. Or maybe someday when I need help, he or she will help me again. So, we are expecting something. Expectation. That is a kind of greed. So, how can we give something to somebody or help somebody without even expecting that this person will say “thank you”? Without even expecting “thank you”. Can we do that? If you do something for another person, and if that person even didn’t say thank you, what will happen to you? What do you feel? Oh, he or she is not appreciated. Not appreciated. He didn’t even say thank you. You get upset. But if your motivation is really pure, you will not get upset.

So, here I will go on reading the book. We are in the presence of universal law. We must learn about this universal law. Buddha live according to the universal law. Buddha had no religions, only universal law. So the teachings of the Buddha is universal law. But because we respect the Buddha, we call his teachings “Buddhism”. It’s a new name. They did not call the teachings of the Buddha “Buddhism”, when Buddha was alive, when Buddha was living. Only after Buddha passed away, to nibbana, many hundreds of years later, people started calling the teachings of the Buddha “Buddhism”. So Buddha did not teach Buddhism. Buddha taught universal law.

So, we are in the presence of universal law. You must understand that. Wholesome and unwholesome actions are universal. It’s not arbitrary convention. And (we) should bow our heads in silence. So, we must bow our heads to that universal law in silence. So when we pay respect to the dhamma, that’s what we are doing. We are respecting the universal law. Dhammam saranam gacchami – we are respecting, we are taking homage in the universal law. But only if we understand the universal law and live according to the universal law, then only we are really respecting universal law.

Obey the judge within

(Or) be the judge within. This is something I’m very interested in. I really feel that there’s a just inside. You can cheat other people. You can deceive other people. They may believe you. But you cannot cheat yourself. When you’ve done something, you know that. I want to go more into detail. Because I really feel it very deeply. But I don’t think we have that much time now. I’ve been talking for a long… time. It’s almost seven. Well, let me finish this one. So obey the judge within. You don’t have to obey anybody. I don’t need to obey anybody. I don’t obey anybody. I’m very disobedient. Really, I mean it. My friends were very upset because I was very disobedient. And my teachers in the school, the principal of the school, the schoolmaster, the headmaster, he caned me every week. My class teacher, almost every week, he or she sent me to the office, “Go to the office”. And I had to go and wait in the office. And when the headmaster came, “What happened?”. And I had to give him the letter from the teacher. “Oh, very disobedient. Okay. You bend.” And I have to bend. And he caned me, and then he said, “Say thank you”. Really… I had to go to the office and get myself hit by a cane and then I had to say thank you. Anyway… I do not blame. I was very disobedient, very naughty. But later, when I learn dhamma, then I obey the judgment. I can do something and get away with it, because they’re not knowing. But my mind punishes me. I know that my mind punishes. You are punishing yourself. It’s your mind that will judge you.

So, even in one book that I wrote in Burmese language. I wrote altogether 18 books. So in one book I wrote that when you are dying, it’s your mind that will judge you. But even when you are living, it’s your mind that is always judging you. And that judge is fair, not biased. You may think that you can deceive yourself and get away with it. No, you will never be able to do that. The judge inside you knows the truth. And that judge is not biased. You cannot bribe the judge.

Asking nothing

And another one is asking nothing. This is also very important for me. I don’t know exactly, but as much as I remember when I was just about ten or 12 years old, I stopped asking for anything from anybody, including from my parents. When they gave me money, I received the money. But I never asked for anything. Because to ask for something, it hurts your pride, certainly that way. So you may notice that I was, I had a very big pride. And I have many friends and I appreciate all my friends very much. But I never asked for anything from anybody, even now. So, asking nothing here not only means that. When I do something good, I just do it because I love doing it. Even if I don’t get any results, any benefit from doing that I will still do it. Because it’s something good to do.

So most of us are product oriented. We want the product. Most of us are not process oriented. We don’t like the process. We only want the product. So, do something just because you know that it is good to do that. So, asking nothing means when we do dana (giving to monks/nuns), of course we know that dana will bring good results and we expect too much from the results. But we can train ourselves to give something just because it is good to do that. And just because we know that what we are doing helps that person. It makes that person happier and easier.

Fearing nothing

Fearing nothing. This is another one that I like very much. I don’t want to live with fear. Just doing our duty right along, seeking no reward here or here after. If you have that attitude, then you can feel how free you feel. You will know how free you feel. But you know the law of nature. So, if you do with your pure heart, pure mind, it will bring suitable results to you, even though you don’t expect anything. So, I expect one thing at least. Whatever I do, I expect freedom. But nothing is more. Nothing else.

Do we have any more questions? I was waiting for your question and talking too much.

Q&A

Non-BuddHist practice meditation?

I’ll tell you one story. I like that very much. Because your question is very important for me. I started practicing meditation without calling myself a Buddhist. Because I run my own practice. I was very curious about many things. And I practice meditation in the beginning just because I love my music teacher who told me to meditate. And also I was interested in. And I want to find out what will happen if I meditate. And the first thing I noticed was, was that after I practiced meditation for about a month, my mind became much calmer, more peaceful. And I don’t react to situations so much anymore. Because my temperament is kind of … in Pali it is called dosa – temperaments. I get upset very quickly. I have a very short temper, get angry very quickly. But not so much anymore. Even now, I sometimes I get upset. But I’m not that bad anymore. And I can see all the bad things happening in the world. Even since I was very young. I can see what’s wrong more than what’s right. So that made me very unhappy. If you go around and see all the bad things happening in the world, what do you feel? You feel very unhappy most of the time. But after meditating, my mind became more calm and peaceful and happy, and I started seeing good things in myself and other people. So that made me happier.

And after practicing meditation for eight years, one day, my mind became very calm and peaceful. And that peace was really extraordinary. And after feeling that deep peace, spontaneously, I felt great gratitude for the Buddha. Until that time, I did not consider myself even somebody who is practicing the teachings of the Buddha. But after I felt this very deep peace and spontaneously I felt gratitude for the Buddha. And without even knowing, I started reciting “Buddham saranam gacchami”. And that gave me a lot of joy also. Just now I mentioned that I did not trust anyone. I did not trust that anybody knows the truth. Although they may be very, they may have goodwill and good intentions, and they teach us many things. What they teach us may be true or maybe not. Nobody can tell. Or partly true and partly false. So, I have a very doubtful, skeptical nature. So, although I appreciate people’s kindness, I don’t trust that they knew the truth. And after practicing meditation and felt very deep peace, and with that peace also, I felt freedom, a kind of freedom, then spontaneously, I felt gratitude to the Buddha. And without even knowing, I started reciting.

Buddham saranam gacchami
Dhamma saranam gacchami
Sangham saranam gacchami

So before I became a Buddhist, I started practicing meditation. And there’s another story, an example of the Buddha. Buddha was travelling and he was a very handsome, good looking monk, so to speak. And nobody really knows, sometimes people did not know that he was the Buddha. He didn’t say that he was a Buddha. He was just traveling. And one day he came to a brahmans (a rich person) house. And in those days, the culture was such that whenever wandering monk comes to your house, you invite that monk. You give him a place to stay, you give him a meal. So this brahmin invited the Buddha and gave him the best place in the house. The Buddha was staying at that house. And then another monk came and he heard about the Buddha from somebody. So, he wanted to meet the Buddha. Fortunately, he came to the same house and asked for a shelter and the householder, who was a very rich brahmans, gave gave him a place to stay in the same room where the Buddha was. So, Buddha was a very friendly teacher. Buddha greeted that young monk, “How are you doing? Where have you come from? Was your journey pleasant? Was there any difficulty?” So, the younger monk said, “There was no problem. It was nice. And I’m quite doing well, doing quite well”. “And where are you going?”, Buddha asked him. He said, “I heard that there was a Buddha. There was a Buddha, an enlightened person. And I want, I want to meet him”. And Buddha didn’t say that, “I’m the one you’re looking for”. He didn’t say that. He said, oh, yes. Then he started talking about law of nature, how the mind and body works, how things are related. So gradually, Buddha taught him all the things about the way the mind and body works. And because this person was earnest and very humble, very receptive, he listened very attentively. And every word, every instruction, every explanation he understood very deeply. And in the end of the discussion, he became enlightened. But he didn’t know that it was the Buddha who was teaching him. So, it is not necessary for you to know that it is the teachings of the Buddha. You just need to practice it.

So, many people ask me many questions, but I think I shouldn’t tell you it is very outrageous. So anyway, when you call yourself a Buddhist, what does that mean? It doesn’t mean much. Many people ask me, “Shall I convert Buddhism?” Many people came and asked me. And I said, “Why do you want to convert to Buddhism?” You just need to practice it. Just practice it. You don’t need to convert to Buddhism. What do you mean, when you say you convert to Buddhism? You change the name. You call yourself a Buddhist. But just to call yourself a Buddhist doesn’t change anything. But if you really understand the teachings of the Buddha and if you practice it, then that’s something. That will make a difference in your life. So, you don’t have to be a Buddhist to practice.

Logics behind dana (giving to monks and nuns)?

So, naturally, when we know that a monk is a good monk and he’s practicing and because we appreciate his practice and teachings, when you give him something, you feel a lot of joy. So that state of mind is important. Because what gives effect is your mental state. It’s your mind that is giving effect. So karma or good karma is actually the mental state. It’s not the thing. It’s the attitude. It’s the mental state. So, when you are giving something to a monk who you believe is a good monk and practicing, then you feel more joy in giving him. And that joy, that mental state with joy has a lot of power. So, what get resolved is that mind. And when you see a dog that is starving, and I have many dogs, and so when you see a dog that is starving and you have food, will you give the dog something to eat or not? Yes. So, you give the dog something to eat and you see that the dog is eating it, you feel happy too. So that is also good kamma.

But in many cases people feel more joy when they do something for somebody they love and respect. So, you are giving it because of your love and respect and appreciation. But to the dog you are giving it because of compassion or pity. So, there’s only a slight difference. But just now I read this here “asking nothing”. When you give something without expecting anything that will really help you become free. So, doing something good without expecting anything is a more powerful way of giving, which will lead to freedom much quicker. Doing something good with expectations will also give you very, very good results. But because of your expectation and depending on what you expect, it will take longer for you to become free.

So when you are giving dana to a monk, and you expect that by doing that you will become rich in the next life, that will keep you in this round of rebirth longer. But if you give this dana to the monk and say that “I’m doing this just to become free”, then your intention, that really pure intention will help you become free. So it depends on your intention. It depends on your mental state.

[“still have intention?”]

Your intention is to be free, not to have anything. To be free means to overcome all intentions or expectations. So it’s a very difficult question to.

Is the want to attain Nibbana a form of craving?

[… There’s one last question for tonigh. “Is it wrong to say I want to attain Nibbana to become a Buddha. Is that also a form craving?”]

That’s also a very important question. So in Pali words, we use the word lobha or tanha. They mean the same. So, when we desire something which is worldly, sense pleasure, then we use the word tanha or lobha. But when we want something, when we desire something which is not wordly, which is not sensual, but liberation or freedom or wisdom, then we use the word chanda. So, with that kind of strong chanda, we call chanda adhipati, we work very hard, until we attain liberation. So we do not say that that is greed. We say that this is strong will. Chanda is actually will, strong will. We do not call that strong crave. We use the word craving only for sensual pleasure. And the two intentions are quite different. For example, when we want to eat chocolate, we can say that I have a craving for this chocolate. But when we are sick and we have to take medicine and we want to take medicine. I take medicine every day, because of diabetes. And I don’t like taking medicine, but I want to take medicine. It’s quite different. I don’t like to take medicine. It’s not because I like to take medication, I take medicine. But I want to take medicine. Because if I don’t take the medicine, it makes me feel terrible, sick. So my wanting to take medicine is not craving. It is based on wisdom and knowledge. I must do this for my health. So depending on the situation, we must understand that just wanting to do something doesn’t mean craving. Why you do (it), and what motivation and what results you want is more important.

(*) Anapana means observation of natural, normal respiration, as it comes in and as it goes out. It is an easy to learn, objective and scientific technique that helps develop concentration of the mind. Observation of the breath is the ideal object for meditation because it is always available and it is completely non-sectarian.

References

Leave a Reply