[Bài Pháp] Người sống theo Pháp (One who lives by the Dhamma)

The English transcript is at the end.

Youtube

Spotify

Soundcloud

Lời người dịch: Trong lúc “lang thang” trên Youtube, tìm kiếm một bài pháp để nghe, tôi tình cờ tìm được bài pháp “cổ” này. Nói là “cổ” bởi vì nó cũng được 15 năm tuổi rồi, khi Sư Yuttadhammo còn trẻ hơn rất nhiều so với thời điểm hiện tại. Nhưng điều đáng nói là nội dung của bài pháp lại như là một lời nhắc nhở quá hay, quá đúng lúc cho bản thân tôi. Tôi đã rất “chạm” đến những lời dạy, câu chuyện ở trong bài pháp, để rồi cuối cùng là tôi lại phải ngồi xuống, ghi lại bài tiếng Anh và dịch Việt ở đây để nghiền ngẫm thêm, cũng như để tự “tặng” cho mình lời nhắc nhở quý giá này một cách sâu sắc hơn. Xin dành tặng nội dung bài pháp đến những ai phù hợp. Độc giả cần lưu ý rằng, tôi thực hiện bản dịch này một cách độc lập, mà không có một mối liên quan nào đến Sư Yuttadhammo cũng như Tăng đoàn của Sư. Mục đích của việc dịch chỉ là để cá nhân tôi nghiền ngẫm và ghi nhớ các lời dạy hữu ích ở trong bài pháp. Các bạn có thể tham khảo bản gốc tiếng Anh được ghi lại ở bên dưới.

Con xin thành kính tri ân Sư Yuttadhammo về bài pháp đầy ý nghĩa này cũng như những nỗ lực không ngừng nghỉ của Sư trong việc truyền đạt Giáo pháp. Cầu mong Giáo pháp vĩ đại của Đức Phật sẽ đến được với những ai cần đến Pháp, những con người đang chiến đấu trong cuộc sống với muôn vàn khó khăn và thử thách này.

Người sống theo Pháp

Chào mừng mọi người đến với Kênh Truyền hình Phật giáo (The Buddhist Channel). Hôm nay, tôi sẽ thuyết giảng về Giáo pháp của Đức Phật. Giáo pháp của Đức Phật là một giáo lý thực tiễn. Và ở trong vai trò của một người Phật tử cũng như ở trong vai trò của một người nghiên cứu Phật pháp, điều quan trọng nhất đối với chúng ta là sống theo Phật pháp, sống cuộc đời của chúng ta theo Giáo pháp của Đức Phật (sống theo Pháp). Bởi vì, chúng ta rất dễ bị cuốn theo kiến ​​thức lý thuyết hoặc việc tự nhận mình là Phật tử. Khi bạn tự xưng mình là Phật tử, bạn rất dễ trở nên ngã mạn và nghĩ rằng như vậy là đủ, khi cho rằng chỉ đơn giản bởi vì bạn là một Phật tử hoặc bởi vì bạn đã nghiên cứu và có hiểu biết sâu sắc về Đức Phật, về Giáo pháp của Đức Phật thì cách này hay cách khác nó đồng nghĩa với việc bạn đang sống theo Pháp. Vì vậy, hôm nay, tôi muốn nói về chủ đề này, một cách chính xác thì sống theo Pháp có nghĩa là gì.

Trong kinh điển Phật giáo, có một bản kinh ngắn thuật lại việc một vị Tỳ-khưu đã trực tiếp hỏi Đức Phật về điều này. Đó là bản kinh số 73 có tên là Sống theo Pháp, ở Chương 5 của Tăng Chi Bộ Kinh, trong đó Đức Phật đã trình bày chính xác ý nghĩa của việc sống theo Pháp. Một vị Tỳ-khưu nọ đã đến gặp Đức Phật và bạch Ngài rằng: “‘Dhammavihārī (sống theo Pháp), Dhammavihārī (sống theo Pháp)’, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, vị Tỳ-khưu là vị sống theo Pháp?” Rồi Đức Phật đã đưa ra một danh sách năm kiểu người khác nhau hiện hữu trên thế gian. Và Ngài giải thích rằng, chỉ có một kiểu người duy nhất là người sống theo Pháp. Ngài đã liệt kê những kiểu người dưới đây.

Kiểu người đầu tiên là những người nghiên cứu những lời dạy của Đức Phật, nghiên cứu Pháp. Chúng ta đang bàn về việc sống theo Pháp, về mối quan hệ của chúng ta đối với Pháp, với Giáo pháp của Đức Phật. Và có một kiểu người, khi biết đến Tam tạng Kinh điển – Tipitaka, họ nghiên cứu chúng và có thể thuộc lòng toàn bộ Kinh điển, hoặc ít lắm thì họ cũng quen thuộc với Giáo pháp. Hoặc là họ có thể chỉ nhớ được một phần Kinh điển mà thôi. Toàn bộ Kinh điển của Đức Phật là vô cùng đồ sộ. Nó chứa đầy cả một giá sách. Có khoảng 84.000 mục hay lời dạy trong toàn bộ Kinh điển Phật pháp. Chúng ta có Luật tạng (Vinaya). Đó là lời dạy của Đức Phật về giới và cách để tu tập hành vi thuộc về thân và thể chất của bạn bằng cách trở thành một vị tăng, ni, và sống cuộc đời của bạn một cách toàn hảo ở ngay tại thời điểm hiện tại. Một vài người sẽ nghiên cứu toàn bộ Luật tạng và học thuộc lòng tất cả những gì được dạy ở trong đó. Là các nhà sư, chúng tôi cần phải thuộc lòng toàn bộ danh sách các giới luật. Các nhà sư Phật giáo có tất cả 227 giới và chúng tôi sẽ học chúng thuộc lòng. Như vậy là một số người thực hiện điều này. Hiện nay, ở Thái Lan có một hoạt động học thuộc lòng toàn bộ Luật tạng, toàn bộ các lời dạy về giới luật. Và một số người tham gia hoạt động này.

Tạng thứ hai trong Tam tạng Kinh điển là Kinh tạng (Suttanta), là những lời dạy về định tâm, hành thiền, về việc tu tập tâm. Nói cách khác là thanh lọc tâm bằng pháp hành thiền định trong đó bạn rèn luyện sự tập trung của tâm, hoặc bằng pháp hành thiền quán trong đó bạn tu tập việc xem xét thực tại những gì đang diễn ra. Đó là những lời dạy về pháp hành, về khía cạnh thực hành. Sau khi đã tu tập giới, tránh xa những hành vi hay lời nói bất thiện, đây là phần dạy về pháp hành mà bạn cần để bắt đầu tu tập tâm, phát triển tâm thông qua định tâm hoặc tuệ quán. Có rất nhiều kinh điển trong bộ Kinh tạng, và có những người thuộc lòng những kinh điển này. Ở Sri Lanka, chúng tôi tụng kinh mỗi ngày. Chúng tôi tụng Kinh Phước Đức (Mangala Sutta):

Evam me sutam
Ekam samayam Bhagavā
Sāvatthiyam viharati
Jetavane Anāthapindikassa ārāme
Atha kho aññātarā devatā…

Một vị thiên nhân đã đến gặp Đức Phật và bạch Ngài rằng, nhiều thiên nhân và chúng sinh đang tìm kiếm phước lành. Vậy đâu là những phước lành đích thực, đâu là những điều chúng sinh cần thực hành để dẫn đến một cuộc sống an lạc đích thực trong thế gian này? Và Đức Phật đã dạy những gì được thuật lại trong bản Kinh Phước Đức. Chúng tôi học thuộc lòng bài kinh này và tụng đọc mỗi ngày. Chúng tôi còn tụng Kinh Châu Báu (Ratana Sutta), bài kinh của Đức Phật dạy về ba kho báu bao gồm: Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo. Và chúng tôi cũng tụng Kinh Từ Bi (Karanīya Metta Sutta). Ba bản kinh này không chỉ là mang ý nghĩa “hộ trì, bảo vệ” (paritta), mà đó thực sự là những lời dạy của Đức Phật. Và mọi người còn học thuộc lòng nhiều kinh hơn nữa, bắt đầu với Kinh Phạm Võng (Brahmajāla Sutta) trong Trường Bộ Kinh (Dīgha Nikāya) và cứ thế tiếp tục. Có người học thuộc lòng được toàn bộ năm bộ kinh Nikāya. Một số người làm được điều này.

Tạng tiếp theo trong Tam tạng Kinh điển là bộ Luận tạng – Vi Diệu Pháp (Abhidhamma). Abhidhamma là mảnh ghép hoàn thiện cuối cùng cho Giáo lý về trí tuệ của Đức Phật. Đó là Giáo lý tuyệt đối và hoàn chỉnh về trí tuệ. Một số người học thuộc lòng toàn bộ Tam tạng Kinh điển. Cần nhắc lại rằng, việc học thuộc lòng như vậy là không cần thiết. Tuy nhiên, có những người làm điều đó. Ở vào thời Đức Phật, việc học thuộc lòng như vậy là điều phổ biến. Bạn cần phải học về Giáo pháp của Đức Phật, mà lại không có sách để học. Vì vậy, mọi người sẽ phải học thuộc lòng. Về cơ bản, nội dung trong Vi Diệu Pháp là những gì bạn sẽ tự mình chứng ngộ từ việc thực hành thiền tập. Bạn sẽ chứng nghiệm rằng, sau khi tiết chế bản thân thông qua tu tập giới và rồi bắt đầu tu tập tâm, bạn sẽ nhìn thấy được thực tại như chúng đang là. Bạn sẽ thấy được rằng, ở bên trong thân và tâm của chúng ta cũng như ở trong trải nghiệm về thực tại của chúng ta, nó bao gồm bốn điều: Có tâm ở đó, có các trạng thái tâm hay các chi phần của tâm, gọi là tâm sở (cetasika), rồi có rupa – yếu tố vật chất ở đó và cuối cùng là sự giải thoát khỏi tất cả những điều này, gọi là Niết-bàn. Như vậy, bạn sẽ nhận ra rằng có bốn thực tại như vậy. Và bạn đi đến sự hiểu biết này thông qua thực hành thiền tập. Bạn sẽ trực nghiệm được rằng, không có chúng sinh hay tự ngã nào cả, rằng mọi thực tại đều có thể được phân tách ra thành các thành phần cấu tạo nên nó. Khi đi bộ, thông thường, chúng ta nghĩ rằng đó là cơ thể đang đi bộ, rằng đó là tôi đang đi bộ. Rồi khi hành thiền, bạn sẽ thấy rằng, thực ra, đó là một cảm giác. Và bản thân cảm giác đó cùng với cái tâm hay biết về nó, cả hai khởi sinh lên và đoạn diệt đi cùng một lúc. Tâm hay biết về cảm giác, đưa ra đánh giá về cảm giác và rồi phản ứng lại một cách tương ứng. Khi chúng đoạn diệt đi, thì một trải nghiệm mới lại khởi sinh lên. Vì vậy, bạn nhận ra rằng, thực tại được phân tách ra thành nhiều mảnh, rằng chúng là vô thường, bất toại nguyện, không có bản thể hay cốt lõi nào (vô ngã), và rằng chúng chỉ khởi sinh lên để rồi lại đoạn diệt đi. Và kết quả là, bạn buông bỏ, đạt đến tự do, khi nhận ra rằng không có gì đáng để dính mắc vào, không có một tự ngã nào cả. Bởi vì mọi thứ đều sinh rồi diệt. Đó chính là Giáo lý của Đức Phật về trí tuệ.

Như tôi đã nói, vấn đề là mọi người dành thời gian học tập nhưng lại không thực sự thực hành. Đức Phật đã dạy rằng, đây là kiểu người thứ nhất. Họ có thể ghi nhớ mọi Giáo pháp của Đức Phật. Họ sẽ dành thời gian học Luật tạng, Kinh tạng, Luận tạng, học những lời dạy của Đức Phật về giới, định và tuệ, nhưng họ lại không thực hành những lời dạy này. Họ có thể học tất cả, hoặc chỉ học một chút. Và cần nhắc lại rằng, việc học tất cả Kinh điển khi tiếp cận Giáo pháp của Đức Phật không phải là một điều quan trọng. Ngay cả chỉ với năm giới luật cũng là đủ về mặt giới để bạn bắt đầu trên con đường tu tập. Và bạn thực sự có thể tự do thoát khỏi khổ đau, bạn có thể đạt được giác ngộ về mặt trí tuệ chỉ bằng cách giữ ngũ giới. Nó được gọi là con đường thấp hơn. Nó không hoàn hảo, ví như một phương tiện không hoàn hảo, nhưng nó vẫn có thể đưa bạn đến nơi bạn muốn đến. Một số người sẽ học tất cả Kinh điển, nhưng một số người khác có thể chỉ học đủ để thực hành. Họ có thể học bản Kinh Đại Niệm Xứ / Tứ Niệm Xứ, chỉ đủ để hiểu những điều cơ bản trong Giáo pháp của Đức Phật và rồi đi vào pháp hành, thực hành. Có người nghiên cứu toàn bộ bộ Abhidhamma, trong khi có người chỉ nghiên cứu những phần cơ bản. Chỉ cần biết về năm uẩn, thế là đã đủ để hiểu về trí tuệ.

Đức Phật dạy rằng, có một kiểu người thứ nhất, họ nghiên cứu về giáo lý, học tập, nhiều hay ít, rồi sau đó họ trở nên chểnh mảng, lười biếng. Họ nghĩ rằng sở học của bản thân là đủ, không còn việc gì để làm nữa. Họ trở nên kiêu ngạo, tự phụ. Và bạn sẽ thấy điều này rất nhiều ở khắp mọi nơi. Bạn chắc chắn sẽ thấy điều này, đặc biệt là trong các cộng đồng Phật giáo. Hôm nay tôi mới đọc về tiểu sử của Ngài Nyanatiloka, vị Tỳ-khưu Phật giáo phương Tây đầu tiên. Có vẻ Ngài là vị sư phương Tây đầu tiên, đến từ Đức. Tôi đọc được các cuộc thảo luận về Phật pháp ở Đức, trong đó đã đề cập đến một số điều này. Rằng (ở phương Tây) khi mọi người mới bắt đầu tìm hiểu về Phật giáo, rõ ràng là họ đã không có vị thầy hướng dẫn cách hành thiền. Vì vậy, họ dành toàn bộ thời gian ngồi trong các nhóm thảo luận và phát triển các lý thuyết, cũng như cố gắng tích hợp Giáo lý vào cuộc sống hàng ngày mà không thực sự ngồi xuống và quan sát hơi thở, hoặc ngồi xuống và quan sát thân mình nhằm có được sự hiểu biết về thực tại một cách cơ bản và sâu sắc hơn. Và đây là điều mà Đức Phật đã dạy, đây không phải là người sống theo Pháp. Chỉ có sự hiểu biết giáo pháp của Đức Phật về mặt trí óc không thôi là chưa đủ. Hoặc là đã học, đã ghi nhớ, đã có một vị thầy, đã đọc qua tất cả mọi kinh điển cũng là chưa đủ… Tôi đã từng có một học trò, người đã đọc toàn bộ Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya) ba lần, toàn bộ 152 bài kinh ở trong đó. Và điều đó thực sự không có tác dụng gì đến việc tu tập của bạn. Bạn biết đấy, bạn có thể chứng ngộ với chỉ một vài lời dạy của Đức Phật mà thôi.

Có một câu chuyện vào thời của Đức Phật nói về chính vấn đề này, một câu chuyện rất nổi tiếng. Ý nghĩa của câu chuyện này là điều mà chúng ta cần luôn cố gắng ghi nhớ cũng như sử dụng làm ví dụ về người mà chúng ta không nên giống, hoặc làm ví dụ về người mà chúng ta nên giống, rằng nếu một người đang mắc kẹt ở trong tình trạng này, thì cần phải làm gì để thoát ra? Đó là câu chuyện về Trưởng lão Tuccha-Poṭhila. Tuccha-Poṭhila là một vị sư ở vào thời của Đức Phật. Tên thật của Ngài là Poṭhila. Poṭhila có nghĩa là lá cọ, là một cuốn sách hoặc một văn bản, một bản thảo. Và Ngài đã thuộc lòng toàn bộ Giáo pháp của Đức Phật, không chỉ ở dưới thời của Đức Phật Thích Ca, mà tương truyền rằng, Ngài thuộc lòng toàn bộ Tipitaka dưới thời bảy vị Phật khác nhau trong những kiếp trước. Và Ngài cũng đã làm điều đó ở vào thời Đức Phật lịch sử của chúng ta, Đức Siddhartha Gautama. Kết quả là, Ngài trở nên khá tự phụ. Ngài nghĩ rằng: “Ta đây hoàn toàn thông thạo Giáo pháp của Đức Phật”. Nếu có bất cứ ai hỏi Ngài bất cứ điều gì về những lời dạy của Đức Phật, điều này hoặc điều kia, Ngài có thể trả lời ngay lập tức. Và rồi những vị đó có thể hiểu được. Nếu có bất ai muốn biết bất cứ điều gì về Giáo pháp của Đức Phật, chỉ cần hỏi Ngài và Ngài có thể nói cho họ biết. Ngài tự thấy mình là một bộ kinh sách hoàn chỉnh. Và rồi một ngày nọ, khi đang đi dạo với các đệ tử của mình, Ngài khởi lên ý nghĩ rằng, nếu mình đến đảnh lễ Đức Phật, Đức Phật chắc hẳn sẽ khen ngợi mình và chào đón rằng: “Ồ, đây là Poṭhila vĩ đại, vị thầy vĩ đại, người biết hết tất cả Giáo pháp của Đức Phật”.

Và thế là Ngài đi đến gặp Đức Phật, và Đức Phật đã bảo rằng: “Ồ, Tuccha-Poṭhila đến rồi”. Tuccha có nghĩa là rỗng không, trống rỗng. Nghĩa là Đức Phật đang nói rằng: “Cuốn sách rỗng đến rồi”. “Đến rồi, cuốn sách rỗng đến rồi”. Khi Ngài Poṭhila ngồi xuống, Đức Phật lại bảo rằng: “Ồ, Tuccha-Poṭhila đang ngồi xuống”. Rồi khi Ngài Poṭhila cúi lạy Đức Phật, Đức Phật tiếp tục: “Ồ, Tuccha-Poṭhila đang cúi lạy Thế tôn”. Ngài Poṭhila rất bực bội, không thể chịu được và đứng dậy bỏ đi. Đức Phật lại bảo: “Ồ, Tuccha-Poṭhila đang rời đi”. Ngài Poṭhila rất bực bội, thất vọng và thực sự đau khổ vì điều này. Bởi vì Ngài nghĩ rằng, Đức Phật sẽ khen ngợi mình, trong khi Đức Phật lại bảo: “Ồ, cuốn sách rỗng đến rồi”. “Cuốn sách rỗng đi rồi”. Ngài đã bỏ đi, ngồi xuống và suy nghĩ: “Tại sao lại như vậy nhỉ?” Rồi Ngài thực sự bắt đầu nghiền ngẫm về lý do Đức Phật gọi mình như vậy. Với hiểu biết của bản thân về Giáo pháp của Đức Phật, Ngài nhận ra rằng những lời đó là đúng.

Đức Phật chưa bao giờ khen ngợi ai đó chỉ vì họ học hoặc đọc Giáo lý của Ngài, hay trong trường hợp này, chỉ vì họ tụng niệm và học thuộc lòng kinh điển. Chỉ nghiên cứu Giáo lý không thôi thì chưa đủ. Và Ngài Poṭhila nhận ra rằng, mình chỉ là một cuốn sách trống rỗng. Ngài không có kinh nghiệm gì về Giáo pháp của Đức Phật, cũng như không có một sự phát triển tu tập nào. Ngài không chứng đạt được gì từ Giáo pháp của Đức Phật. Do đó, Ngài xem đây là một dấu hiệu cho thấy mình phải làm một điều gì đó. Ngài nghe nói có một trung tâm thiền ở trong rừng. Và Ngài lập tức đến trung tâm đó. Có đến 30 vị Thánh A-la-hán đang an trú ở trung tâm thiền này. 30 vị sư này đã chứng ngộ nhờ vào việc thực hành Giáo pháp của Đức Phật. Vì vậy, Ngài biết rằng các vị Thánh này sẽ giúp được mình. Ngài đến gặp vị Trưởng lão trụ trì, vị sư trưởng, vị sư cao cấp nhất, nghĩ rằng vị sư ấy sẽ nhận Ngài làm học trò. Nhưng vị trụ trì cao cấp biết ngay rằng, vị sư này rất tự phụ, rất kiêu ngạo. Vị trụ trì suy nghĩ rằng, nếu mình dạy cậu ta, cậu ta sẽ trở nên kiêu ngạo, nghĩ rằng: “À, thấy chưa, mình đang học từ vị sư trụ trì hàng đầu”. Vì vậy, vị trụ trì đã gửi Ngài Poṭhila đến vị sư phó. Vị sư phó lại gửi Ngài Poṭhila đến vị thứ ba, rồi vị thứ tư, cứ thế đi xuống dần mà chẳng ai trong số họ muốn nhận Ngài Poṭhila làm học trò. Cuối cùng, Ngài Poṭhila được chuyển tới cho một vị Sa-môn chỉ mới bảy tuổi. Và tuy chỉ mới bảy tuổi, vị Sa-môn này cũng là một vị Thánh A-la-hán.

Và vị Sa-môn nhỏ tuổi này đã làm một điều rất thú vị. Vị ấy vẫn còn rất giống một đứa trẻ bảy tuổi. Vì vậy, phương pháp giảng dạy của vị ấy không giống như cách dạy của người lớn. Và vị ấy đã nghĩ ra một cách rất hay để giúp vị sư này vượt qua sự kiêu ngạo của chính mình. Vị Sa-môn nói với Ngài Poṭhila rằng: “Này, ta sẽ dạy cho sư, nếu sư hứa sẽ làm bất cứ điều gì ta bảo sư làm. Bất cứ điều gì ta bảo sư làm, thì sư phải hứa là sẽ làm”. Và tôi thấy điều này cũng được áp dụng ở trong thời hiện đại. Đó là một kỹ thuật hiệu quả. Bởi vì thông thường thì mọi người sẽ nghĩ rằng: “Được rồi, vâng. Không vấn đề gì. Tôi sẽ làm bất cứ điều gì ông nói”. Bởi vì bạn nghĩ vị ấy là một thiền sư, vị ấy sẽ không bảo mình nhảy xuống nước với y áo trên người hay một điều gì đó tương tự. Và trên thực tế, đó chính xác là những gì mà vị Sa-môn trẻ đã yêu cầu Ngài Poṭhila làm. Ngài Poṭhila xác nhận rằng: “Được rồi, con hứa sẽ làm bất cứ điều gì. Xin hãy dạy con”. Vị Sa-môn bảo rằng: “Được rồi, sư nhảy xuống nước đi”. Thế là Ngài Poṭhila bắt đầu cởi y áo ra. “Không, không, nhảy xuống nước với y áo còn trên người đi”. Thế là Ngài Poṭhila nhảy vào giữa ao, vùng vẫy ở dưới nước hết mức có thể. Vị Sa-môn tiếp tục yêu cầu: “Được rồi, lên đây nào. Lên nhanh lên, nhanh lên, nhanh lên”. Và thế là Ngài Poṭhila leo lên khỏi ao nước. Vị Sa-môn lại yêu cầu: “Đi, xuống nước lại đi”. Rồi Ngài Poṭhila lại xuống nước. Làm như vậy được tầm 2-3 lần cho đến lúc vị Sa-môn không biết phải làm gì kế tiếp. Rồi vị ấy hỏi Ngài Poṭhila: “Nếu có một gò mối với sáu lỗ vào ra và có một con thằn lằn chui vào gò mối, làm thế nào để bắt được con thằn lằn?” Ngài Poṭhila suy nghĩ trong khi vẫn đang còn ở dưới nước, và đáp lại rằng: “À, cần bịt năm lỗ lại và sau đó canh chừng ở lỗ thứ sáu. Khi con thằn lằn chui ra, nó sẽ bị bắt tại đó”.

Và vị Sa-môn dạy rằng: “Đó là điều ta muốn sư làm”. Sáu lỗ là sáu giác quan, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và tâm. Bạn đóng cả năm không có nghĩa là bạn nhắm mắt, bịt tai,… mà ý là bạn đóng chúng lại bằng chánh niệm. Bạn không đi theo chúng. Khi bạn nhìn thấy một thứ gì đó bằng mắt, bạn không nhận biết nó như là cái này hay cái kia. Bạn chỉ đơn giản biết rằng đó là sự nhìn, sự nghe, sự ngửi, sự nếm, sự cảm nhận. Và bạn quan sát tâm. Tâm đi đến đâu, bạn đi theo sau tâm mình đến đó. Bạn không đặt sự chú ý lên các giác quan khác, hoặc là lắng nghe một âm thanh và tận hưởng nó. Mà đó chỉ là cái nghe, cái ngửi, … cho đến khi bạn có thể bắt được tâm, thấy được tâm “đi ra”, và sau đó bạn sẽ thấy được những phiền não ở trong tâm (kilesa), có thể bắt lấy chúng và “tiêu diệt” chúng. Bạn có thể đoạn diệt những điều xấu xa ở trong tâm mình. Và khi suy ngẫm về điều này, Ngài Poṭhila đã từ bỏ được mọi kiêu mạn trong mình. Nhờ đó, Ngài có thể thực hành việc quan sát sáu giác quan và tự do giải thoát được khỏi mọi khổ đau. Ngài đã trở thành một vị Thánh A-la-hán thông qua pháp hành này.

Câu chuyện này cho thấy rằng, ngay cả một vị thầy được kính trọng bậc nhất ở vào thời của Đức Phật cũng không có nền tảng để được xem là người sống theo Pháp, cho đến khi vị ấy từ bỏ sự kiêu mạn để tu tập. Cho dù bạn biết và hiểu Giáo pháp của Đức Phật đến đâu chăng nữa thì điều đó cũng vô nghĩa cho đến khi bạn thực sự thực hành nó. Đây là kiểu người đầu tiên.

Kiểu người thứ hai là những người sau khi học tập về Kinh điển, họ sẽ thực hành việc tụng niệm. Và bạn có thể thấy điều này rất nhiều ở các quốc gia Phật giáo. Mọi người thực hành việc tụng kinh rất nhiều, tụng đi tụng lại nhiều lần. Chúng ta cũng thực hành việc tụng kinh. Như tôi đã chia sẻ, chúng ta tụng kinh Ratana Sutta, Mangala Sutta, Karaṇīya Mettā Sutta mỗi ngày. Chúng ta tụng kinh và nghĩ rằng, bằng cách này hay cách khác, làm vậy là sống theo Pháp. Ngay cả người cư sĩ tại gia cũng nghĩ vậy. Có nhiều thiền sinh người Thái Lan và Sri Lanka đã chia sẻ với tôi rằng, họ tụng kinh rất nhiều… Họ tụng cả một cuốn kinh. Một số người tụng kinh tầm 1 hoặc 2 tiếng đồng hồ. Khi tôi hỏi họ: “Các bạn có hành thiền không?”, câu trả lời là: “Ồ không, nhưng tôi tụng kinh mỗi ngày”. Và họ nghĩ rằng tụng kinh là sống theo Pháp, rằng đó là cách sống theo Phật pháp. Tôi thậm chí còn tranh luận với một người phụ nữ. Tôi bảo rằng: “Cô biết đấy, cô dành rất nhiều thời gian để tụng kinh, tại sao lại không thêm vào việc hành thiền?” Và cô ấy trả lời rằng: “Không, đây là pháp tu của tôi. Đấy là cách tu theo như được dạy trong Giáo pháp của Đức Phật”. Tôi đã đáp lại rằng: “Đức Phật chưa bao giờ dạy chúng ta tụng kinh”. Đức Phật đã dạy ở trong bài kinh này. Ngài dạy về kiểu người được gọi là “sajjhāyabahulo”, là người chỉ tụng kinh hoặc tụng kinh rất nhiều, rằng đó không phải là người sống theo Pháp, “no dhammavihārī”.

Lại có kiểu người thứ ba, sau khi nghiên cứu Phật pháp, nghiên cứu toàn bộ kinh điển hoặc là nhiều nhất có thể, rồi họ đi dạy lại cho người khác. Cũng giống như việc dạy giáo lý mà chúng ta có trên kênh The Buddhist Channel ở đây, có những người sẵn sàng bỏ rất nhiều công sức để dạy cho người khác. Nhiều người đến gặp tôi và dạy tôi Phật pháp, ngay cả khi tôi không hề yêu cầu họ làm điều đó. Bạn sẽ thường xuyên thấy điều này ở khắp mọi nơi. Thực tế là mọi người quan tâm đến việc đi dạy cho người khác hơn là tự mình thực hành. Và có một câu chuyện ở vào thời của Đức Phật kể về một vị sư khác. Câu chuyện này cũng rất thú vị, vì vậy tôi muốn chia sẻ nó cho những ai chưa nghe.

Câu chuyện kể rằng… Có một vị sư nọ đã nghiên cứu Kinh điển khá chuyên sâu. Sư đã học hết Kinh điển, bao gồm Luật tạng, Kinh tạng và Luận tạng. Rồi sư bắt đầu dạy cho mọi người. Sư dạy mọi người cách thực hành Phật pháp, mặc dù bản thân mình lại không thực hành gì nhiều nhặn cả. Tuy nhiên, sư am hiểu Giáo lý, biết cách áp dụng Giáo lý, cũng như biết cách dạy Giáo lý cho mọi người. Vì vậy, sư đã nỗ lực hết sức để dạy dỗ, thu hút được một số lượng lớn các vị đệ tử. Và tất cả các đệ tử của sư đều đạt ngộ, một số vị thành tựu Thánh đạo Nhập lưu, một số thành tựu Thánh đạo Nhất lai, một số thành tựu Thánh đạo Bất lai, và một số thành tựu Thánh đạo A-la-hán. Tất cả các học trò đều trở thành những bậc giác ngộ ở cấp độ này hay cấp độ khác. Và sư rất tự hào về bản thân mình, nghĩ rằng: “Ta là một vị thầy vĩ đại”. Và mọi người cũng rất tự hào về sư. Mọi người đều nghĩ, sư là một vị thầy vĩ đại và sư thực sự là một vị thầy vĩ đại. Điều này tiếp diễn một thời gian, cho đến khi một trong những vị học trò của sư, là một vị Thánh Bất lai – Anagami, có thần thông nhìn thấu tâm trí của người khác. Vào một ngày nọ, vị Thánh đệ tử ngồi thiền và khởi lên ý nghĩ rằng: “Mình đang được thụ hưởng những điều kỳ diệu này từ vị thầy của mình. Không biết thầy đã đạt đến tầng giác ngộ nào nhỉ?” Và rồi vị Thánh đệ tử nhận ra rằng, vị thầy của mình chưa hề thành tựu được bất kỳ một thánh quả cao quý nào. Thầy vẫn chỉ là một chúng sinh phàm tục, và vị ấy nghĩ rằng, không thể bỏ qua việc này được. Thầy đã làm những điều tuyệt vời cho các học trò. Và các học trò cũng phải hỗ trợ vị thầy của mình.

Thế là vị Thánh đệ tử đi đến cốc của vị thầy và bạch rằng: “Bạch thầy, con muốn thọ giáo với thầy ạ.” Vị thầy thì lại đang bận rộn, hết người này người kia đến rồi đi, vừa dạy học, vừa gặp gỡ học trò,… Trong khi vị thầy nghĩ rằng vị sư học trò đang muốn học từ mình, thì chủ ý thực sự của vị sư học trò lại là đang muốn mang đến cho vị thầy của mình một bài học. Vị thầy đã từ chối rằng: “Ồ, không. Hôm nay thầy bận quá. Thầy không có thời gian để dạy con”. Thế là vị sư học trò ngồi xuống, bắt chéo chân, và nhập định. Rồi vị ấy bay lên khỏi sàn nhà, lơ lửng ở trong không trung, và nói với thầy mình rằng: “Thầy thậm chí còn không có thời gian cho chính mình, làm sao thầy có thể giúp các học trò? Làm sao thầy có thời gian dành cho người khác, trong khi chính mình lại chưa thành tựu được điều gì cao quý? Thầy chẳng hề có thời gian để dành cho việc tu tập của chính mình”. Và vị sư đệ tử cứ thế bay ra ngoài cửa sổ rời đi. Tin hay không là tùy bạn. Vị thầy trở nên rất bồn chồn, nhận ra rằng bản thân mình chưa thành tựu được gì từ việc tu tập cả. Sư chưa bao giờ dành thời gian vào rừng để thực hành thiền tập cho riêng mình. Sư luôn quá bận rộn dạy dỗ người khác.

Sư nhận ra điều đó và nhận ra rằng, việc này cần phải chấm dứt. Rõ ràng là điều này đã làm sư chấn động. Và sư đã từ bỏ mọi thứ vào thời điểm đó, không dạy dỗ nữa. Sư bỏ lại tất cả các học trò của mình, để họ tự học, tự dạy lẫn nhau. Các học trò lớn sẽ dạy dỗ các học trò nhỏ hơn. Sư bảo rằng: “Thầy sẽ đi xa” và rời đi. Sư không cho ai biết mình đi đâu, một mình vào sống trong rừng. Ở đó, sư đã hành thiền rất tích cực, thiền hành rồi thiền ngồi. Cuối cùng thì sự căng thẳng của sư ngày càng gia tăng. Sư đã tự thúc ép mình quá nhiều với suy nghĩ rằng: “Tôi phải giác ngộ, tôi phải giác ngộ”. Tất nhiên, điều này dần trở thành một chướng ngại trong việc hành thiền của sư. Nó thực sự làm hại việc thực hành của sư, cản trở sự tu tập và phát triển của sư. Bạn có thể thấy điều này xảy ra với nhiều thiền sinh. Bạn quá khao khát để đạt ngộ ngay lập tức, trong năm ngày, trong mười ngày tới. Và nó trở thành một chướng ngại. Bởi vì, đó là một sự trói buộc, dính mắc. Bạn không chịu buông bỏ. Và dĩ nhiên, giác ngộ chính là buông bỏ. Và cứ thế, mọi chuyện ngày càng trở nên tồi tệ hơn cho đến khi cuối cùng thì sư trở nên đổ vỡ, suy sụp và bật khóc. Sư hoàn toàn tuyệt vọng và biết rằng nếu quay lại, sư sẽ trở thành một trò cười và đó là một nỗi ô nhục. Sư không thể quay lại. Thế nhưng, sư cũng chẳng thành tựu được gì từ việc tu tập cả.

Thực tế là mỗi khi bạn suy sụp, vỡ mộng, đó lại thường là một điều tốt đẹp nhất cho bạn. Khi bạn bỏ cuộc, đúng không? Bạn tự bảo rằng: “Mình vô dụng. Pháp hành này không hiệu quả đối với mình”. Trong trường hợp này, đó lại thực sự là một điều tốt đẹp nhất, bởi vì nó giúp vị sư này tỉnh ngộ và nhận ra. Nó giúp sư từ bỏ sự kiêu ngạo, ngã mạn, nhận ra rằng sư không phải là một con người vĩ đại. Sư không thể ép buộc bản thân mình. Sư không có quyền năng để thành tựu Thánh đạo. Bạn biết đấy, giác ngộ, như tôi đã chia sẻ, là khi bạn buông bỏ. Do đó, việc bỏ cuộc thực hành thiền tập trong hoàn cảnh này lại thực sự có thể mang lại lợi ích. Ở trong câu chuyện này, mặc dù mọi người không biết vị sư này đang ở đâu trong rừng, nhưng các vị thiên nhân thì lại biết. Bởi vì biết rằng, sư là một vị thầy vĩ đại, các vị thiên nhân đã theo dõi mọi việc sư làm. Các vị ấy đã xuống và cùng sư thực hành thiền hành, thực hành thiền ngồi. Khi sư đi, họ cũng đi; khi sư ngồi, họ cũng ngồi. Và vào ngày hôm đó, có một vị thiên nhân đã dõi theo sư. Rồi khi sư ngồi xuống bật khóc, vị thiên nhân đã xuất hiện trước mặt sư và cũng bắt đầu khóc. Và vị sư nhìn vị thiên nhân, hỏi rằng: “Tại sao ông lại khóc? Ông là ai?” “Ta là một thiên nhân.” “Vậy tại sao ông lại khóc?” Và vị thiên nhân đã đáp lại rằng: “Vâng, ta biết sư là một bậc thầy vĩ đại. Vậy nên, nếu khóc là con đường dẫn đến giác ngộ, thì ta sẽ phải khóc cùng với sư.” Vào giây phút đó, vị sư tỉnh ngộ ra và bảo rằng: “Đây không phải là con đường.” Sư nhận ra rằng, mình phải tự vực dậy và tiếp tục với việc thực hành, với việc tu tập. Và kết quả là sư đã thành tựu được Thánh đạo, đã giác ngộ. Bởi vì sư đã buông bỏ. Sư nhận ra rằng, mình đang dính mắc, đang bám víu. Như vậy, đây là một câu chuyện khác minh hoạ về việc chúng ta có thể dễ dàng bị cuốn vào việc dạy dỗ như thế nào. Việc dạy người khác thì dễ dàng hơn nhiều. Vị sư này mặc dù chưa giác ngộ nhưng vẫn có thể dạy người khác cách để đạt được giác ngộ. Đây là kiểu người thứ ba mà Đức Phật đã nói, và kiểu người này không phải là người sống theo Pháp.

Lại nữa, có kiểu người thứ tư là người tư duy về Phật pháp, lý giải Phật pháp bằng trí óc, bằng suy nghĩ. Như tôi có chia sẻ, ở Đức, khoảng một trăm năm trước hoặc hơn một trăm năm trước, khi mọi người bắt đầu tìm hiểu về Phật giáo, đã có rất nhiều nhóm như vậy. Và bạn có thể thấy điều này ở khắp mọi nơi trên thế giới. Thực ra, tôi đã thấy những nhóm như vậy ở Canada. Bạn cũng thấy họ ở Sri Lanka, ở Thái Lan, những người ngồi quanh bàn tròn, thảo luận về Phật pháp và thuyết giảng. Bạn biết đấy, đó không phải là giảng dạy Pháp, mà là thảo luận và lý giải, là một sự hiểu rõ về Phật pháp ở trên phương diện trí óc. Bạn có thể thấy điều này ở khắp mọi nơi. Và Đức Phật dạy rằng, đây cũng không phải là kiểu người sống theo Pháp. Sống theo Phật pháp không phải thông qua một sự hiểu rõ ở trên bề mặt lý trí. Bạn hiểu rõ Bát Chánh Đạo, và bạn nghe về những người bảo rằng họ sẽ sống theo Bát Chánh Đạo tốt nhất có thể trong cuộc sống của mình… Nó không phải như vậy. Bát Chánh Đạo là một khoảnh khắc, khi tâm bạn trở nên toàn hảo. Nếu bạn không thực hành thiền tập, bạn không thể đi trên con đường Bát Chánh Đạo được. Điều đó là không thể. Bạn không thể có được giới, định và tuệ siêu thế. Bạn chỉ có được giới, định và tuệ thông thường, không thể có được trí tuệ tối thượng. Bởi vì, mọi thứ chỉ đang ở mức độ nhận thức về mặt lý trí mà thôi. Bạn bảo rằng: “Vâng, tôi không muốn giết hại”. Nhưng sâu thẳm ở bên trong mình, bạn lại sân hận. Bạn khó chịu khi một con muỗi đậu lên người mình hoặc là với những điều tương tự như vậy. Bạn có những sự sân giận này ở trong tâm mình và bạn chỉ có thể kìm nén chúng trong một thời gian nhất định nào đó mà thôi. Có những thiền sinh có thể kìm nén các phiền não trong một thời gian dài. Trong Ấn Độ giáo và các tôn giáo khác, những người theo đạo Cơ đốc, đạo Hồi, tất cả họ đều có thể kìm nén các phiền não. Nhưng chỉ với sự dạy dỗ của Đức Phật và việc thực hành Giáo lý của Ngài, Giáo lý của một bậc giác ngộ hoàn toàn, thì bạn mới có thể thực sự nhìn thấy rõ thực tại khi nó khởi sinh lên và đoạn diệt đi, nhìn thấy nó đúng như bản chất của nó. Sự hiểu rõ trên phương diện trí óc và thậm chí là lòng thành kính đối với Phật pháp không thôi thì chưa đủ, cho dù bạn có giữ ngũ giới cả đời đi chăng nữa… Đức Phật đã làm điều này trong một thời gian dài, trong nhiều kiếp sống của một vị Bồ-tát, nhưng vẫn không thể giác ngộ được. Do đó, nếu cho rằng chỉ cần sống theo Giáo lý trong các hoạt động hàng ngày, không trở nên quá sân giận, tham lam và cố gắng sống theo Pháp là đủ, thì đó thực chất không phải là sống theo Pháp. Đức Phật dạy rằng ngay cả sự hiểu rõ về mặt lý trí đối với Phật pháp thì cũng vẫn là “no dhammavihārī”, cũng vẫn không phải là người sống theo Pháp. Vậy là có bốn kiểu người như vậy.

Đức Phật dạy về kiểu người thứ năm như là những người nghiên cứu, học hỏi Giáo pháp của Đức Phật. Ở đây, lưu ý rằng ngay cả kiểu người này cũng cần nghiên cứu Giáo pháp của Đức Phật. Một người chưa từng nghiên cứu, chưa từng học hỏi bất cứ điều gì về Giáo pháp của Đức Phật, dù rằng có thể đã nhìn thấy Đức Phật cũng như đã nghe được về sự giác ngộ của Ngài và quyết định hành thiền hoặc học hỏi, nhưng lại không hiểu được cốt lõi của Giáo pháp, có thể học về giới, hoặc có thể học một chút ít về Bát Chánh Đạo, nhưng lại không học về cách thực hành thì không được xem là người sống theo Pháp. Bởi vì họ không biết về Pháp. Họ không biết Phật pháp là gì. Nhưng đối với kiểu người thứ năm này, một khi đã nghiên cứu và học hỏi về Phật pháp, họ làm một vài điều đặc biệt. Có bốn điều họ làm mà những người khác không làm. Những điều này được trích lại từ Kinh điển Pāli. Và tôi muốn giải thích về những điều này, những đặc điểm của một người sống theo Pháp.

Điều đầu tiên trong tiếng Pāli là: “Na divasaṃ atināmeti”. “Họ không để ngày tháng trôi qua”. Họ không để thời gian trôi đi, không lãng phí thời gian. Đây là điều mà chúng ta cần luôn ghi nhớ: “Na divasaṃ atināmeti”, không lãng phí thời gian. Họ không để ngày tháng trôi qua. Như vậy, chúng ta luôn có thể tự vấn bản thân mình rằng, chúng ta đã học về Pháp và có thể có ý định thực hành Pháp, nhưng liệu chúng ta có đang để ngày tháng trôi qua không? Liệu chúng ta có đang lãng phí thời gian làm những việc khác, tham gia vào những công việc thế tục hay các công việc trong tu viện hay làm những việc tương tự khác ở trong cuộc sống hàng ngày không? Liệu chúng ta có đang lãng phí thời gian vào những việc khác, trong khi chúng ta có thể hành thiền, trong khi chúng ta có thể thực hành hay không? Người sống theo Pháp không làm điều này. Họ không lãng phí thời gian. Họ thực hành ở ngay tại đây, ở ngay vào thời điểm hiện tại này. Đức Phật dạy rằng: “Khaṇo vo mā upaccagā”. Đừng để khoảnh khắc trôi qua. Và kiểu người thứ năm này không để điều đó xảy ra.

Điều thứ hai trong tiếng Pāli là: “Nāpi riñcati paṭisallānaṃ”, nghĩa là họ không bỏ cuộc. Họ không từ bỏ, không vứt bỏ độc cư hay từ bỏ một nơi vắng vẻ, là nơi chốn hành thiền của mình. Họ ở lại đó, tự mình ở lại nơi đó. “Na riñcati”, họ không rời bỏ nó. Họ ở yên tại một chỗ, có thể là ở trong rừng, có thể là ở dưới gốc cây, hoặc dưới tán cây chẳng hạn. Ở trong thời hiện đại, thì có lẽ đó là cốc thất của họ, một kuti. Đó có thể là một kuti ở trong rừng hoặc là phòng ngủ của họ, hoặc là một phòng thờ nào đó được sử dụng làm phòng thiền ở trong nhà hoặc bất cứ một nơi nào khác, bất kỳ một nơi nào trống trải. Đức Phật gọi nơi chốn đó là “suññāgāra”, một nơi trống trải, không có người ở, không có ai đến làm phiền bạn và khiến bạn xao nhãng khỏi việc hành thiền. Với những người bình thường, họ có thể có những nơi chốn như vậy. Nhưng họ lại không dành thời gian ở đó. Bạn biết đấy, họ ở một nơi yên tĩnh như thế này, và họ bắt đầu nghĩ đến những người khác, và rồi họ muốn đi nói chuyện với mọi người, muốn đi đọc sách, hoặc là muốn đi ăn, uống,… Họ muốn đi làm những việc như vậy và lãng phí thời gian của mình. Là một thiền sinh, là một Phật tử, điều rất quan trọng là chúng ta cần phải trân trọng sự độc cư của mình. Chúng ta trân trọng thời gian được ở một mình. Khi chúng ta có thời gian một mình ở trong phòng, ở nơi độc cư của mình, nơi mà chúng ta dành thời gian cho nó, chúng ta không xem đó là một nơi khó chịu để rồi ước mong mình đang được ở một nơi khác, không mong ngóng ra cửa, suy nghĩ về việc chạy ra ngoài để tìm gặp bạn bè, tìm những điều thú vị. Khi ở một nơi yên tĩnh như vậy, hầu hết mọi người sẽ cho rằng, nó thật nhàm chán, chẳng có gì để làm, và họ đi tìm một việc gì đó để làm. Họ không nhận ra rằng, bây giờ chính là cơ hội, rằng thường rất khó để tìm được cơ hội như vậy, khi bạn ở một mình, có nơi chốn cũng như có thời gian để hành thiền, để thực hành Giáo pháp của Đức Phật. Một người sống theo Pháp sẽ hiểu điều này, thấy được lợi ích của sự độc cư. Độc cư là điều rất quan trọng trong Giáo pháp của Đức Phật, kể cả chỉ với thân độc cư, kāya viveka, sống tách biệt, đưa thân ra khỏi xã hội, rời xa đám đông, không cố gắng tìm người để nói chuyện, để giao tiếp, dành thời gian để ở một mình. Đây là điều thứ hai mà kiểu người thứ năm làm.

Điều thứ ba mà họ làm ở trong tiếng Pāli là: “Anuyuñjati ajjhattaṃ cetosamathaṃ”. Họ tu tập, phát triển bản thân mình với định tâm, với sự tĩnh lặng nội tâm ở bên trong, nghĩa là thực hành thiền định (samatha). Họ thực hành việc làm tâm mình trở nên định tĩnh và tĩnh lặng. Họ tu tập sự tĩnh lặng nội tâm ở bên trong. Ở đây, Đức Phật đang đề cập đến sự tĩnh lặng ở bên trong. Nhiều người, ở bên ngoài, trông rất bình yên, rất định tĩnh, nhưng tâm của họ lại đang chạy rất nhanh. Ví như trẻ em chẳng hạn, đôi khi trông chúng có thể rất bình yên, rất định tĩnh, nhưng bạn không thể biết được điều gì đang diễn ra ở bên trong tâm của chúng. Con người thì không giống với các loài động vật. Với động vật, bạn có thể nhìn chúng và biết được điều gì đang diễn ra ở trong tâm của chúng. Nhưng đối với con người, điều đó là rất khó. Hành động của con người có thể đang nói lên điều này, trong khi lời nói của họ thì lại nói một lên một điều khác, và tâm thì lại là một điều khác nữa. Ở đây chúng ta đang cố gắng để có được một sự tĩnh lặng ở bên trong. Vẻ ngoài của chúng ta không quan trọng, mà quan trọng là những gì đang diễn ra bên trong tâm mình. Khi hành thiền, như tôi đã giải thích, khi quan sát sự phồng xẹp của bụng, khi quan sát chuyển động của bàn chân, khi quan sát sự đau đớn hoặc cảm giác hạnh phúc, khi quan sát suy nghĩ của mình và niệm thầm: “Suy nghĩ, suy nghĩ”, hoặc khi quan sát các cảm xúc của mình, thích, không thích,… khi quan sát bất kỳ một trạng thái nào khởi sinh lên, tâm sẽ trở nên tĩnh lặng. Bạn trở nên tĩnh lặng ở bên trong, tâm bạn lắng xuống. Đây là điều thứ ba rất quan trọng mà một người sống theo Pháp thực hành. Đức Phật dạy rằng, một người chỉ cần thực hành điều này thôi cũng có thể được xem là sống theo Pháp, khi họ làm cho tâm mình tĩnh lặng, tập trung tâm lên thực tại. Ngay cả khi họ chưa đạt được một trí tuệ đích thực, thì họ vẫn đang thực hành để phát triển trí tuệ. Do bởi sự định tâm này, sự định tâm lên thân và tâm mình, lên các trải nghiệm về thực tại ở xung quanh mình, khi chúng ta tập trung tâm, làm cho nó lặng xuống và tập trung vào một đề mục duy nhất, điều này được xem là sống theo Pháp.

Điều thứ tư, cuối cùng và tất nhiên cũng là điều quan trọng nhất của người sống theo Pháp là: “Uttariñcassa paññāya atthaṃ pajānāti”. Uttariñca, uttariñ có nghĩa là cao hơn. Attha, họ nhận ra ý nghĩa cao hơn của paññā, của trí tuệ mà họ đã đạt được. Pajānāti, họ nhìn thấy rõ ràng ý nghĩa của trí tuệ trong Giáo pháp của Đức Phật. Paññā nghĩa là trí tuệ của Đức Phật. Và họ nhận ra “uttariñ atthaṃ”, ý nghĩa cao hơn, ý nghĩa thực sự của trí tuệ. Và đây là một điều rất khó hiểu. Chúng ta nghĩ rằng chúng ta hiểu về “anicca”, hiểu về vô thường, trong Giáo pháp của Đức Phật. Chúng ta nghĩ rằng chúng ta hiểu về nó. Bạn biết đấy, bây giờ tôi 31 tuổi, trước đây tôi chỉ là một đứa trẻ, nhưng giờ thì nó đã thay đổi. Rồi khi già đi, tôi sẽ lại thay đổi và rồi tôi sẽ chết. Vô thường, tôi hiểu điều đó. Mọi thứ đều là vô thường. Chúng ta nghĩ rằng chúng ta hiểu điều đó. Và đó là trí tuệ. Nhưng đó lại không phải là trí tuệ của chúng ta. Đó là trí tuệ mà người khác đã cho chúng ta, đã nói cho chúng ta biết về vô thường. Chúng ta chỉ mới hiểu nó bằng lý trí. Sự hiểu biết của Đức Phật về vô thường mang một ý nghĩa cao hơn. Ý nghĩa cao hơn đó là mọi trải nghiệm đều khởi sinh lên và đoạn diệt đi. Đó là ý nghĩa của vô thường (anicca), khổ (dukha) và vô ngã (anatta).

Dukkha là khổ, không có nghĩa là nó gây đau đớn, mà là nó không phải là sukha, không phải là an lạc, hạnh phúc. Thông thường, khi chúng ta nhìn thấy một điều gì đó đẹp đẽ, chúng ta nghĩ rằng điều đó là hạnh phúc, sẽ làm mình hạnh phúc. Chúng ta nghe thấy một âm thanh tuyệt vời nào đó, chúng ta sẽ cho rằng nó làm tôi hạnh phúc. Điều tương tự cũng xảy ra đối với mùi, vị, xúc chạm, và các suy nghĩ, chúng ta nghĩ rằng những điều này mang lại cho mình hạnh phúc. Và cho dù chúng ta có hiểu biết sâu sắc trên phương diện lý trí về Giáo lý của Đức Phật đến đâu chăng nữa, nhưng nếu chúng ta chưa hành thiền thì chúng ta vẫn dính mắc vào những điều này, nghĩ rằng chúng sẽ mang lại cho mình hạnh phúc, rằng hạnh phúc này là có thật. Thực tế thì lại không phải như vậy. Và đó là lý do tại sao chúng ta khổ, trở nên buồn chán, bồn chồn, lo lắng, khó chịu. Chúng ta luôn không thoả mãn, bởi vì những tham muốn của chúng ta, bởi vì chúng ta không có khả năng nhìn thấy vô thường, hay là bản chất vô thường của vạn vật. Rằng mọi thứ luôn thay đổi, rằng không có gì thực sự có thể làm chúng ta thỏa mãn.

Và vô ngã là điều khó hiểu nhất. Tôi cho rằng, rất khó để hiểu được vô ngã trên phương diện suy nghĩ. Đó là lý do tại sao tôi đã bảo rằng, hiểu biết bằng suy nghĩ không phải là cách tiếp cận Giáo pháp của Đức Phật. Khi hành thiền, thiền sinh sẽ thấy được các hiện tượng khởi sinh lên và đoạn diệt đi đều dựa trên luật nhân quả. Chúng không hề xảy ra theo ý muốn, mong muốn chủ quan của chúng ta. Ngay cả việc bụng mình phồng lên xẹp xuống cũng sẽ khiến chúng ta bực bội hết lần này đến lần khác, cho đến khi chúng ta buông bỏ, cho đến khi chúng ta nhận ra rằng chúng ta không thể kiểm soát nó được. Chúng ta không thể ép buộc tâm mình phải luôn luôn đi cùng với sự phồng lên xẹp xuống. Chúng ta không thể ép buộc bụng mình phồng lên xẹp xuống một cách đều đặn và liên tục được. Đây là trí tuệ mà chúng ta ngộ ra khi tâm chúng ta cuối cùng buông bỏ. Và khi tâm buông bỏ, nó sẽ đi vào bên trong. Nó ngừng chạy nhảy ra bên ngoài để xem, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm và suy nghĩ. Và như vậy, tâm được giải thoát vào cái mà chúng ta gọi là Niết-bàn.

Như vậy, đó là ý nghĩa của điều được gọi là sống theo Giáo pháp của Đức Phật, sống theo Pháp. Tôi nghĩ rằng, đây là một lời dạy rất quan trọng, một điều tuy không được dạy thường xuyên nhưng một người Phật tử lại cần ghi nhớ. Do bởi chúng ta thường không sống theo Pháp. Người Thái hay bảo rằng, có những Phật tử trên giấy tờ. Bởi vì, thẻ căn cước của Thái Lan có mục thông tin về tôn giáo của bạn. Nên họ nói đùa rằng, có hai loại Phật tử bao gồm: Phật tử thực hành theo Pháp và Phật tử ở trên căn cước. Và chúng ta không nên như vậy, không nên là loại Phật tử trên giấy tờ. Tôi có đọc được từ Ngài Hòa thượng Piyadassi Thero, một vị học giả Phật giáo vĩ đại ở Sri Lanka, rằng: “Giáo pháp của Đức Phật không phải là thứ mà bạn có thể sở hữu như là một kho báu quốc gia”. Tuy nhiên, chúng ta lại thấy điều này xảy ra. Chúng ta thấy rằng ở các đất nước Phật giáo, mọi người xem Phật giáo như là một kho báu quốc gia, cho rằng Phật giáo là của họ. Nhưng chỉ khi nào bạn thực sự thực hành Giáo pháp, còn không thì Phật giáo không phải là của bạn. Người phương Tây cũng tương tự vậy, cảm thấy như thể họ đã giải phóng Phật pháp khỏi văn hóa phương Đông. Vì vậy, Phật giáo giờ đây thuộc về họ, và họ sở hữu nó. Điều này có thể trở nên rất nguy hiểm. Sẽ rất dễ trở nên kiêu ngạo về điều này. Và rồi bạn bắt đầu nghĩ rằng, sự hiểu biết về mặt lý trí, khả năng giảng dạy, khả năng thảo luận, khả năng phân tích mọi thứ dựa trên Phật pháp khiến bạn trở thành người sống theo Phật pháp, trong khi thực tế lại không phải là như vậy. Nếu bạn không kết hợp chặt chẽ bốn điều này: Hành thiền liên tục mỗi ngày, sống độc cư hoặc giữ mình tránh xa khỏi đội nhóm, dành thời gian tránh xa đội nhóm để hành thiền, và rồi thực sự hành thiền để làm tĩnh lặng tâm và hướng đến sự giác ngộ cuối cùng, khi bạn đạt đến sự hiểu biết rằng, mọi việc là vô thường dựa trên trải nghiệm trực tiếp của chính mình về thực tại diễn ra ở trong từng khoảnh khắc, thì bạn không thể được xem là người sống theo Pháp.

Đó là những gì được dạy bởi Đức Phật mà tôi nghĩ rằng mình nên truyền đạt lại, điều mà tôi cho là cần trở nên quen thuộc với chúng ta trong vai trò của người Phật tử. Và tôi khuyến khích mọi người hãy xem đây như là một lời nhắc nhở rằng, chúng ta nên gấp rút hành động ngay bây giờ, khi có cơ hội được sinh ra ở trong thời đại mà Giáo pháp của Đức Phật vẫn còn tồn tại, để thực sự hành thiền, để phát triển tâm và phát triển chính bản thân mình, để nhận ra chân lý của Phật pháp và giải thoát chính mình khỏi mọi khổ đau. Cảm ơn các bạn đã theo dõi và tôi chúc các bạn mọi bình yên, hạnh phúc cũng như tự do giải thoát khỏi mọi khổ đau.

The original Dhamma talk (Bài pháp gốc)

English Transcript

One who lives by the Dhamma

Hello and welcome to The Buddhist Channel. Today I’ll be giving a talk on the Teachings of the Buddha. The Teachings of the Buddha are a practical teaching. And it’s important to understand that as Buddhists, as people who study the Dhamma of the Buddha, the most important thing for us is to live by the Dhamma, is to live our lives in accordance with the Buddha’s teaching. Because it’s very easy for us to get carried away by our theoretical knowledge or our identification of ourselves as Buddhists. When you call yourself a Buddhist, it’s very easy to become negligent and to think that somehow this is enough, that simply because you are Buddhist or because you have studied and because you have some intellectual appreciation of the Buddha, of the Buddha’s teaching, that somehow you’re living by the Dhamma. So today, I’d like to talk about exactly what it means to live by the Dhamma.

There’s a story in the Buddha’s teaching that addresses this, where the Buddha was asked by a monk. And this is in the Anguttara Nikaya, in the the Book of Fives, or the group of fives, where the Buddha laid out exactly what it means to live by the Dhamma. So this monk came to the Buddha and asked him, “What does it mean to live by the Dhamma?” He had heard this phrase “Dhammavihārī”, one who lives by the Dhamma, “Dhammavihārī, Dhammavihārī”, one who lives by the Dhamma. He hear people saying this. “Who exactly is it, Venerable Sir, Lord Buddha, that lives by the Dhamma?” And so the Buddha gave a list of teaching, a list of people, five different types of people that exist in the world. And he explained that there is only one type that is someone who lives by the Dhamma. So he gave a list of these people.

The first type of person is someone who studies the Teachings of the Buddha, someone who studies the Dhamma. So we’re talking about living by the Dhamma, we’re talking about our relationship with the Dhamma, with the Buddha’s teaching. So one type of person comes and sees the Tipitaka. You have the Teachings of the Buddha and they study them. They may memorize all of the Teachings, or at least they have familiarity with the Teachings. They maybe, they memorize one part of the Teachings. The whole of the Lord Buddha’s Teachings is immense. It takes up a whole bookshelf. They say there are 84,000 items or teachings, in the whole of the Buddha’s teaching. We have the Vinaya. This is the Buddha’s teaching on morality and how to perfect your bodily and physical behavior by becoming a monk or a nun, and living your life perfectly now. Some people will study all of this and will memorize it all. So as monks, we even memorize the whole of the list of rules. The monks have 227 rules and we’ll memorize them. And so someone, some people do this. In Thailand now there is an activity to memorize the whole of the Vinaya Pitaka, all of the Buddhist’s teaching on morality. Some people do this.

The second group of teachings is the the Suttanta or the Buddhist’s teaching on concentration, on meditation, perfecting one’s mind. So purifying one’s mental states, you know, either through practicing concentration where you focus the mind or practicing insight where you look at reality. It’s the practice, the practical aspect. So once you have morality where you refrain from immoral behavior or immoral speech, then what do you do to start to develop your mind, to develop your mind either in tranquility or in insight? And so you have here many of the suttas, and there are people who memorize these suttas. We we recite… Here, in Sri Lanka, we recite every day. We recite the, the Mangala Sutta:

Evam me sutam
Ekam samayam Bhagavā
Sāvatthiyam viharati
Jetavane Anāthapindikassa ārāme
Atha kho aññātarā devatā…

When this angel comes to see the Buddha and tells him that many angels and human beings are looking for the blessings. What are the true mangala, the true auspiciousness or lucky things blessings in the world? And the Buddha teaches this. So we memorize this and we recite it every day. We recite the Ratana Sutta, the Buddha’s discourse on jewels, on the three treasures, the Buddha, the Dharma and Sangha. And we recite the Karanīya Metta Sutta. So, these three are not just “paritta”. They’re not just protections. They’re actually the Teachings of the Buddha. And people will memorize more of them. They start with the Brahmajāla Sutta in the Dīgha Nikāya and they go on and on and on. They will memorize the whole of the the five Nikāya. So some people do this.

Then, there is the third basket or the third group of the Buddha’s teaching, which is the Abhidhamma. The Abhidhamma is the Lord Buddha’s perfection of the Teachings on wisdom. So it’s the absolute complete Teachings on wisdom. And some people will memorize all of it. Again for all of these three, it’s not necessary to do this, but there are people who do. In the Buddha’s time, this was the common thing. You had to study. You had to learn what was the Buddha’s teaching. They didn’t have books that you could go back to. So they would actually memorize it. In the Abhidhamma, it’s basically what you’re going to realize from the meditation practice. You’re going to realize that, you know, once you refrain through morality and start to develop your mind, you’re going to come to see reality for what it is. You’ll come to see that inside of our body and mind and in our experience of reality, there are four things. There’s the mind. There is the mental states or the parts of the mind, the cetasika. And then there is the rupa, the physical matter. And then the fourth one is the freedom from all of this, the Nibbana. So you come to realize that there are four realities. And you’ll come to understand this through the meditation practice. You’ll come to realize that there is no being or no self, that every reality can be broken up into its composite pieces. So when you walk, normally, we think this is the body walking. We think this is I am walking. When you practice meditation, you’ll come to see that actually, it’s a sensation. And the mind that’s aware of the sensation and the sensation itself and the mind that’s aware of it, they arise at the same time and they cease. The mind is aware of it and judges it and responds accordingly. When they cease, then a new experience arises. So you come to see that reality is broken up into pieces. You come to see that they’re impermanent, that they’re unsatisfying, and that they have no essential being or core, and that they only arise and cease. And as a result, you let go and realize freedom, when you realize that there is nothing worth clinging to, that there’s nothing of any essential value. Because everything is arising and ceasing. So this is the Buddha’s teaching on wisdom.

Now, as I said, the problem is that people spend their time studying and don’t actually practice. So the Buddha said, this is the first type of person. They might memorize all of the Buddha’s teachings. They will spend their time studying the Vinaya, the Suttanta, the Abhidhamma, the Buddha’s teaching of morality, concentration and wisdom, but they won’t practice it. They may study all of it, or they may study a little bit of it. And again, it’s not important that you study all of it in approaching the Buddha’s teaching, even just the five precepts is enough morality to get you started on the path. And you can actually become free from suffering, you can come to the realization of wisdom just by keeping the five precepts. This is called the the lower path. It’s not perfect, so it’s like having a vehicle that is not perfect, but it can get you where you’re going. Some people will study all of the sutta, but some people maybe just study enough to practice. So they study maybe the Satipatthana Sutta. And it’s enough to understand the basics of the Buddha’s teaching and then go and practice. Some people study the whole of the Abhidhamma, some people study just the pieces of it, you know, the basics of it. If you just know about the five aggregates, that’s enough to understand about wisdom.

So the Buddha said, there’s this first person that does the studying, whether it be a lot or a little, but then they become negligent. And they think that because of their study, they don’t have anything left to do. They become conceited. And you see this a lot in the world. You’ll see this, especially in Buddhist circles. Just today I was reading about, reading the biography of Nyanatiloka, the first Western Buddhist bhikkhu. Apparently the first and he was from Germany. And the discussion about Buddhism in Germany went through some of this, that when people first learned about Buddhism, obviously they didn’t have a teacher to show them how to meditate. So they spend all their time sitting in discussion groups and developing theories and trying to incorporate the Teachings into their daily life, without actually sitting down and watching their breath, or sitting down and watching the body and coming to understand in a more fundamental or intensive fashion. And so this is the sort of thing that the Buddha said, this is not a person who lives by the Dhamma. Simply knowing, simply having an intellectual understanding of the Buddha’s teaching is not enough. Or having learned or having memorized or having gone through, having had a teacher or read all the books… I had a student once who had read the Majjhima Nikāya three times, the whole of the Majjhima Nikāya, 152 suttas. And this doesn’t have any bearing, really, on your practice. You know, you can become enlightened by a few words.

There’s a story in the Buddha’s time about this very issue. And it’s a very well known one. It’s something that we always try to keep in mind, and we use as an example of who not to be like or. Or an example of who to be like, if a person is stuck in this state, what you should do to get out of it? And it’s the story of Tuccha-Poṭhila. Tuccha-Poṭhila was a monk in the Buddha’s time. His name was Poṭhila, actually. And Poṭhila means these palm leaf. It’s a book or a text, a manuscript. And he had memorized all of the Buddha’s teaching. And not only in this Buddha, apparently, it was said that he memorized the whole of the tipitaka under seven different Buddhas in his previous existences. And he had done it also in this Buddha’s dispensation, in the time of our historical Buddha, Siddhartha Gautama. And as a result, he became quite conceited. And he thought, you know, “Here I am, totally proficient in the Buddha’s teaching”. If anyone asks him about anything, what did the Buddha teach on this and this and this? He could answer right away. And people practicing with him could understand it. If anyone wanted to know anything about the Buddha’s teaching, then just ask him and he’d be able to tell them. He was a… He felt like he was the complete Poṭhila, the complete manuscript. And so one day, you know, he was walking around with his students and he thought he’d go to pay respect to the Buddha, figuring that when he went to see the Buddha, the Buddha would certainly praise him and say, “Oh, you know, here comes the great Poṭhila, the great teacher who knows all of the Buddha’s teaching”.

And so, he went to see the Buddha, and the Buddha said, “Oh, here comes Tuccha-Poṭhila. And tuccha means empty. Tuccha means blank. So, he’s calling, “Here comes empty book”. “Here comes, here comes empty book”. So, Poṭhila sits down, he says, “Oh, there’s Tuccha-Poṭhila sitting down”. And then he pays respect to the Buddha and (the Buddha says), “Oh, Tuccha-Poṭhila is paying respect to me”. Poṭhila gets very upset and gets up. He walks away. He can’t stand it and he walks away. The Buddha says, “Oh, there goes Tuccha-Poṭhila is leaving”. And he’s very, very upset and frustrated and actually, distressed by this. Because here he thought the Buddha would praise him. And the Buddha says, “Oh, here comes empty book. There goes the empty book”. And so he goes, and he sits down and he thinks about, why is this? And then he actually starts to think about, well, what is the, you know, why is the Buddha saying this? And he thinks about the Buddha’s teaching and he realizes that it’s true.

You know, the Buddha never praised someone for simply learning, simply reading the Buddha’s teaching, or in this case, you know, reciting and memorizing. Simply having studied the Buddha’s teaching isn’t enough. And he realized that he was an empty book. He had no experience in the Buddha’s teaching, no development. He had gained nothing from the Buddha’s teaching. So, he took this as a sign that he had to do something. And he went to see… He heard about there was a meditation center in the forest. And he went right away to this meditation center. And this was a meditation center that had 30 Arahants living in it. These 30 monks who had become enlightened through practicing the Buddha’s teaching. So he knew, okay, these guys, they’ll help me. So he went to the abbot, the chief monk, the monk who was the most senior, thinking he would take him as his teacher. But the senior abbot knew right away that this monk was was full of himself. He was very conceited. And so he thought, you know, if I teach him, he’ll become conceited that here he is, you know, all the other monks will see that… “I’m learning from the top monk”. So he sends him to the vice abbot or the monk who is second in line. The monk who is second in line sends him to the third in line, to the fourth in line, all the way down. And none of them… They keep passing him on to the next guy. Until finally, the last monk passes him on to a seven year old novice, Samanera, who is only seven years old, but who is also an Arahant.

And the Samanera does a very interesting thing. He’s still very much a seven year old. So his method of teaching is not like an adult’s way of teaching. And also he thinks of a very good way of helping this monk to overcome his conceit. He says to him, “Look, I’ll teach you, if you promise to do anything I tell you to do. Whatever I tell you to do, you have to promise to do it”. And I’ve seen this used in modern days as well. It’s a good technique to use. Because normally people think, you know, “Okay, yeah. No problem. I’ll do whatever you say”. Because you think he’s a meditation teacher, he’s not going to tell me to run into the water with my robes on or something. And in fact, that’s exactly what the novice had him do. He said, “Okay, I promise I’ll do anything. Please just teach me”. He said, “Okay, run into the water”. So he starts taking off his robes. “No, no, run in with your robes on”. So he runs into the middle of the pond, and there he’s treading water as best he can or floundering around. He said, “Okay, come out now. Come quick, quick, quick”. And so he comes out of the water and “Go, go back down in”. And he sends him back into the water. He does this 2 or 3 times, until he’s just at his wits end. He doesn’t know what to do. And then he asks him. He says, “If you have a termite mound and a lizard goes into the termite mound, how do you catch the lizard?” And Tuccha-Poṭhila says, he’s there in the water and he’s thinking, and he says, “Well, you’d close up five of the holes and you watch the sixth hole. And when the lizard comes out, you catch it”.

And, and the novice says, “This is what I want you to do”. The six holes are the six senses, the eye, the ear, the nose, the tongue, the body and the mind. You close all the five means you don’t close your eyes, your ears,… It means you close them with mindfulness. You don’t follow after them. When you see something with the eye, you don’t recognize it as this or that or the other thing. You simply know that it’s seeing, hearing, smelling, tasting, feeling. And you watch the mind. Wherever the mind goes, you follow the mind. You don’t pay any attention to the other senses or listening to a sound and enjoying it, or so on. It’s only hearing, smelling and so on until you can catch the mind and you see the mind coming out, and then you will see the defilements in the mind, the kilesa. And then you can catch them and you can kill them. You can destroy the bad things that you have in your mind. And Tuccha-Poṭhila, as he thought about this, he had given up all of his conceit. And so he was able to do this, to watch the six senses and become free from suffering. And he became an Arahant through this practice.

So this is a story that just goes to show that even the most respected teacher in the Buddha’s day had no basis to be called one who lives by the Dhamma, until he finally gave up his conceit for his learning. People who have doctor degrees or whatever… They really have… No matter how much of the Buddha’s teaching you know and intellectually understand, it means nothing, until you actually practice it. So this is the first person.

The second type of person is one who, after they practice, sorry, after they study, then they memorize it or they chant it. And you see this a lot also in Buddhist countries. So, people do a lot of chanting of the Buddha’s teaching, chanting again and again and again. We’ll do recitals of the you know, as I said, we recite every day the Ratana Sutta, the Mangala Sutta, the Karaṇīya Mettā Sutta. And we do this and we think that somehow this is living by the Dhamma. We think that… Even laypeople will do. I’ve had meditators from Thailand and Sri Lanka telling me that they do many, many, many… They do a whole book of chanting. Some people do 1 hour or 2 hours of chanting. So when I ask them, do you do any meditation? They say, “Oh no, but but every day I do chanting”. And they think that somehow by chanting that you’re going to live by the Dhamma, that it’s somehow living by the Dhamma. Even I had an argument with a woman. I said, “Well, you know, you do all this time chanting, can’t you fit meditation in there?” And she said, “No, this is my way of doing it. This is, you know, according to the Buddha’s teaching”. I said, “the Buddha never taught us to chant”. The Buddha said in this in this sutta. He said, this is someone called “sajjhāyabahulo”, one who is full of chanting or has much chanting. It’s not someone who lives… “no dhammavihārī”, this is not one who lives by the Dhamma, someone who just does the chanting.

A third type of person, after they’ve studied the Buddha’s teaching, they study all of the parts of it or as much as they can, they then go and teach it to others. So just as we have the teaching here on the Buddhist Channel, we have people who will go very far out of their way to teach others. And many people come to me and will teach me the Buddhist teaching, even if I haven’t asked them to teach me. So you will find this a lot, actually, that people are much more interested in teaching others than practicing on their own. And there was a story, another story in the Buddha’s time of another monk. If you’ll forgive me, I’ll have… This story is also very interesting, so I’d like to share it for those of you who haven’t heard it.

This story goes… This monk had also done fairly intensive training in the scriptural knowledge. So he had learned the sutta, Vinaya, the Sutta, the Abhidharma. He started teaching people. So he taught people how to practice the Buddha’s teaching without having practiced very much at all himself. But he knew the Teachings, and he knew how to apply it, how to teach people. So he went out of his way to teach, and he gathered a very large following of students. And all of his students became enlightened, and some of them became Sotapanna, some of them became Sakadagami, some of them became Anagami, some of them became Arahant. They all became enlightened beings of one level or another. And he was very proud of himself. He thought, “Well, you know, I am a great teacher”, and everyone was very proud of him as well. Everyone thought he is a great teacher and he was a great teacher. And this went on for some time, until finally one of his students, who was an Anagami and had magical powers, had the power, the ability to see into someone else’s mind. One day, he was sitting in meditation and thought, “Here I am in this wonderful thing I’ve gained from my teacher. What level of attainment has my teacher gained?” And he realized that his teacher hadn’t gained any realization. The teacher was still an ordinary human being, and he thought this is something we can’t let go by. Our teacher has done great things for us. We have to help him as well.

And so he went to the teacher’s room and he said to the teacher. The teacher was busy. He had people coming and going and was teaching and meeting with his students and so on. And the student said, “Teacher, could you please give… I would like a lesson today. I would like to have a lesson today”. But what he really meant is “I want to give you a lesson”. The teacher thought, of course, that he wanted a lesson from the teacher, and the teacher said, “Oh, no. I’m too busy today. I have no time for a lesson”. And so the monk sat down in cross-legged position, and he went into a state of meditative absorption. He floated up off the off the floor, floating in the air, and he said to the teacher, he said, “You don’t have time even for yourself. How can you help us? How can you have time for other people when you yourself haven’t gained anything? You have taken no time for yourself”. And he flew out the window, believe it or not. And so this monk became very agitated by this, realizing that he himself had gained nothing from the practice. He had never taken the time to go into the forest and to practice his own meditation. He had always been too busy helping other people.

So, he realized that and that this had to stop. And this was, this had visibly shaken him up. And he just gave up everything at that time. He said, “No more teaching”. He gave all his students up, you know, you teach yourself, teach each other something. His senior students would teach the junior students. He said, “I’m going away”. And he left. And he didn’t tell anyone where he was going. And he went to live in the forest alone. No one knew where he was. And he did very strenuous meditation, walking back and forth and sitting meditation. And until finally, his stress was building. And he was he was pushing himself so hard and he thought, “I have to become enlightened, I have to become enlightened”. And this, of course, was a hindrance in his meditation. It was actually hurting, hurting his practice, hindering his development. And you find this as well with meditators. You’re so keen to become enlightened here and now, in the next five days, ten days. That it becomes a hindrance. Because it’s an attachment. You’re not letting go. And of course, enlightenment is letting go. And so, it got worse and worse until finally he blew up. He broke down and he started crying. And he was just at his wits end and knew that if he went back, he would be the laughing stock and he would be such a disgrace. He couldn’t go back. And yet here he was getting nothing from the practice, so it seemed.

In fact, when you break down, it’s often the best thing for you. When you give up, right? You say, “I’m useless. This practice is not working for me”. It’s actually the best thing in this case because it helps you realize. It helps you give up your conceit. Realize that you’re not the great. You can’t force yourself. You don’t have the power to become enlightened. You know, enlightenment is, as I said, when you give up. So this giving up of the meditation can actually be beneficial. Now, what happened in this case was it turns out people didn’t know where he was, but the angels knew where he was. And so the devas came down and were doing the walking meditation with him, were doing the sitting meditation with him. Knew that he was a great teacher, so they were following everything he did when he walked, they walked. When he sat, they sat. And one angel was following him on that day. And when he sat down to cry, the angel appeared in front of him and started crying. And the teacher looked at him, looked at the angel and said, “Why are you crying? Who are you?” “I’m an angel”. “Why are you crying?” And he said, “Well, I know you’re the great teacher. So, if crying is the way to enlightenment, I’ll have to cry with you”. And the teacher, he woke up and he said, “This is not the way”. And then he realized he has to pull himself together and continued on with the practice. And he was able to become enlightened as a result. Because he gave up, he realized that he was holding on, he was clinging. So, this is another story about how it’s easy to get caught up in teaching. It’s much easier to teach someone else. This man, he was not enlightened and yet was able to teach others how to become enlightened. This is the third type of person the Buddha said, this type of person is not one who lives by the Dhamma.

The fourth type of person is one who thinks about the Dhamma, who intellectualizes it. And this, I said in Germany, about a hundred years ago or over 100 years ago, when they first started learning about Buddhism, they had all these groups and this, you see around the world. Actually, I’ve seen it in Canada. You see it here in Sri Lanka, in Thailand, there are people who sit around, in a round table and discuss the Buddha’s teaching and give talks and you know, it’s not teaching, but it’s discussion and it’s intellectualising, intellectual appreciation of the Buddha’s teaching. You’ll see this a lot. And this, the Buddha said, is also not one who lives by the Dhamma. Living by the Dharma is not an intellectual appreciation. You appreciate the Eightfold Noble Path, and you hear about people who try to say they’re going to live by the Eightfold Noble Path as best they can in their lives, and so on. This isn’t… The Eightfold Noble Path is this one moment, where your mind becomes perfect. If you don’t practice meditation, you can’t follow the Eightfold Noble Path. It’s not possible. You can’t have the magga sila, the magga samadhi, the magga panna. You have ordinary morality, ordinary concentration and ordinary wisdom. But you can’t have the ultimate and supreme wisdom. Because your mind… It’s only an intellectual appreciation. You say, “Yes, yes, I don’t want to kill”. But deep down inside you’re angry. You’re upset when a mosquito lands on you or so on. And you have these things in your mind and you can only suppress them for so long. There are meditators who can suppress the defilements for a long time. In Hinduism and other religions, people who are devout Christians, devout Muslims, they can all suppress the defilements, but without the Buddha to teach or without a practice of the Buddha’s teaching, of a fully enlightened being’s teaching where you actually are able to see reality as it arises and ceases, and see it for what it is. The intellectual appreciation and even devotion to the Buddha’s teaching. No matter if you keep the five precepts your whole life… The Buddha did this for many years as a Bodhisattva, many lifetimes as a Bodhisattva, and still wasn’t able to become enlightened. So to think that it’s enough simply to live by the teaching on a day-to-day basis and not get too angry, not get too greedy and try to live according to the Dhamma, it’s not actually living by the Dhamma. The Buddha said that even an intellectual appreciation of the Buddha’s teaching “no dhammavihārī”, is not one who lives by the Dhamma. So, these are four types of people.

The fifth type of person, the Buddha said, here’s a person who studies the Buddha’s teaching. And please take note that even this person has studied the Buddha’s teaching. A person who has never studied, who has never learned anything about the Buddha’s teaching, who maybe sees the Buddha and hears about the Buddha’s enlightenment and decides to meditate or learns, doesn’t understand the core of the Buddha’s teaching, maybe learns morality, or maybe learns a little bit about the Eightfold Noble Path, but not about how to practice is not considered, is also not considered one who lives by the Dhamma. Because they don’t know the Dhamma. They don’t know what is the Teaching of the Buddha. But this person, once they study it, they do something that is special. And there are four things that they do that the other people don’t do. And this is from the Pali. So I want to explain these things, the characteristics of someone who is one who lives by the Dhamma.

The first phrase in the Pali is: “Na divasaṃ atināmeti”. “They don’t let the days go by”. They don’t let time go by. They don’t waste time. This is something that… This is a phrase that we should always keep in mind: na divasaṃ atināmeti, they don’t waste time. They don’t let the days go by. So we can always ask ourselves, we’ve studied and we maybe intend to practice, but are we letting the days go by? Are we wasting our time doing other things, getting involved in worldly things or getting involved in business of the monastery or so on in our daily lives? Are we wasting our time in other things, when we could be meditating, when we could be practicing? One who lives by the Dhamma doesn’t do this. They don’t waste time. They practice here and now. The Buddha said, “khaṇo vo mā upaccagā”. Don’t let the moment pass you by. And this they don’t do.

The second one: “Nāpi riñcati paṭisallānaṃ”. This means they don’t give up. They don’t abandon, they don’t discard the seclusion or a secluded place, meaning they have a place to meditate. They stay there, they stay there themselves. “Na riñcati”, they don’t leave it. They stay put in a place, maybe it’s a forest, maybe it’s a tree, foot of tree, you know. But in modern times, it’s probably their room, a kuti. So, if it’s a cutie in the jungle or it’s their bedroom, or it’s some shrine room that they have a meditation room in their house or wherever, any place that is empty, the Buddha said, “suññāgāra”, a place that is empty, that has no people in it, no one that’s going to come and bother you and take you away from meditation. Because ordinary people, they might have these places. But they don’t spend their time there. They spend all of their time, you know, they’d be in a quiet place like this, and then they start thinking about other people, and they want to go and talk to people. They want to go and read books, or they want to go and eat, or they want to go and drink or so on. They want to go and waste their time. It’s very important, as meditators and as Buddhists, that we appreciate our solitude. We appreciate our time alone. When we have this time alone in our room, in our solitary place that we take the time, we don’t see it as kind of a difficult place to be, and wishing we were somewhere else and looking at the door and and going, running out to find people, to find things that are exciting. When you have this quiet place, most people will say, this is boring, nothing to do, and they go and find something to do. They don’t realize that now is the opportunity, that it’s very difficult often to find this opportunity where you’re alone, where you have the the place and the time to meditate, to practice the Buddha’s teaching. So, a person who lives by the Dhamma will know this, will see the benefits of seclusion. Seclusion is very important in the Buddha’s teaching, even just bodily seclusion, kāyavivekā, separating, taking your body out of society, away from the group, not trying to find people to talk with, to socialize with. Taking your time to be alone. This is the second thing that they do.

The third thing that they do is, according to the Pali: anuyuñjati ajjhattaṃ cetosamathaṃ. They they develop themselves in concentration, internal composure. And the meaning here is they practice samatha meditation. They practice to calm the mind, to tranquilize the mind. And they develop internal composure. Many people have external composure. Here, the Buddha is referring to internal composure. Many people, from the outside, they look very peaceful, very calm. But their minds are running very quickly. If we look at children, sometimes, they can look very peaceful, very calm, but you don’t know what’s going on in their mind. And people are not like other animals. Animals, you can look at them and you can tell what’s in their mind. But with humans, it’s very difficult. Humans can be doing one thing, their actions can say one thing, their speech can say another, and their mind can say another. So here we’re trying to be composed internally. It doesn’t matter what we look like outside. It’s what’s going on inside of our minds. When we practice meditation, as I explained, watching the rising and the falling of the stomach, when you watch the movements of the feet and when you watch the pain or the happy feelings, when you watch your thoughts, you say to yourself, “thinking, thinking”, or when you watch your emotions, liking, disliking or so on, any states that arise, your mind becomes composed. You become internally composed, your mind quiets down. And this is a very this is the third important quality of one who lives by the Dhamma. The Buddha said, a person who does even just this can be considered to be living by the Dhamma when they’re quieting their mind, focusing their mind on reality, even if they haven’t yet gained true wisdom, they’re still practicing to develop wisdom. Because this concentration, concentration on our body and on our mind, on the experience of reality around us. When we focus our minds and quiet it down and focus it on a single object, this is considered to be living by the Dhamma. Number three.

The fourth and final, and of course, the most important quality of one who lives by the Dhamma is: “Uttariñcassa paññāya atthaṃ pajānāti”. Uttariñca, uttariñ means higher. Attha, they come to see the higher meaning of the paññā, of the wisdom that they’ve gained. Pajānāti, they come to see clearly the meaning of the wisdom of the Teachings of the Buddha. So, paññā here is only the scriptural Teachings, but it’s the wisdom of the Buddha. And they come to realize the “uttariñ atthaṃ”, the higher meaning, the real meaning. And this is something that’s very difficult to understand. Because you think you understand it, “anicca”. We think we understand impermanence, in Buddha’s teaching, on impermanence. We think we understand it. You know, now, I’m 31 years old and, you know, before I was only a child, but that’s changed. And then when I get old, I’ll change again and then I’ll die. Impermanence, I understand it. Everything is impermanent. We think we understand it. This is wisdom. But it’s not our wisdom. It’s the wisdom that someone else has given to us and told us about impermanence. We only understand it intellectually. The Buddha’s understanding of impermanence was the higher meaning. The higher meaning is that every experience arises and ceases. This is the meaning of anicca, dukkha, and anatta. Anicca is impermanence.

Dukkha is suffering, means not that it’s painful, but that it’s not sukha, it’s not happiness. You know, normally we look at things, we see something beautiful. We think that is happiness. That’s going to make me happy. We hear some beautiful sound. This is making me happy. Taste, smells, feelings, thoughts, we think these things are bringing us happiness. No matter what intellectual appreciation we have of the Buddha’s teaching, if we haven’t practiced meditation, we cling to these things, thinking that they are going to bring us happiness, thinking that this happiness is real. In fact, it’s not. And that’s why we suffer. We we become bored. We become agitated. We become upset. We’re discontent at all times, because of our addictions, because of our inability to see the impermanence, the impermanent nature of all things. That it’s changing all the time, that nothing can actually satisfy us.

And anatta, anatta is the most difficult, I think intellectually it’s very difficult to understand. And this is why, as I said, intellectual understanding is not the way to approach the Buddha’s teaching. When one practices meditation, one will see that the phenomena that arise and cease are doing so based on cause and effect. They’re not according to our will, our wish, even our stomach rising and falling will frustrate us again and again and again until we let go, until we realize that we can’t control it. We can’t force our minds to be with the rising and falling. We can’t force the stomach to rise and fall in a smooth and constant manner. And this is the wisdom that we realize until finally our minds let go. And when the mind let’s go, it comes inside. It stops leaping out to the sight, the sound, the smell, the taste, the feelings and the thoughts. And this is released. The mind is released into what we call Nibbana or Nirvana.

So, this is what it means to live by the Buddha’s teaching to live by the Dhamma. And I think this is a very important teaching, one that can never be explained too often, something that we should all bear in mind as Buddhists, that we’re not just living according, as they say in Thailand, we’re Buddhists by our identity card. Because in Thailand, on the identity card that every person has to carry, it says what religion you are. So they joke that there are two types of Buddhists. There’s the Buddhist who practice and Buddhist on their card. And we should not be this. Because Buddhism, according (to what) I was reading from Piyadassi Thero – the great Buddhist scholar from Sri Lanka, he said, “Buddhism is not”, “the Dhamma of the Buddha is not something that you can possess like a national treasure”. And yet we see this. We see that in Buddhist countries, they will think of it as a national treasure, that Buddhism is ours. And until you’ve actually practiced, Buddhism is not yours. People in the West are the same. People in the West feel like they’ve liberated the Dhamma from the culture of the East. So, Buddhism is now theirs, and they possess it. And it can become very dangerous. It’s easy to become conceited about this. And you start to think that your intellectual appreciation and ability to teach, an ability to discuss, an ability to analyze everything based on the Dhamma is making you, makes you one who lives by the Dhamma, when in fact it’s not. If you’re not incorporating these four things, the constant practice every day, the seclusion or the keeping yourself away from the group, or taking the time away from the group to meditate and then the actual meditation where you quiet the mind and the final realization getting this understanding, that is constant, that is ultimate or that is here and now, based on the moment to moment experience of reality, then you can’t be said to be one who lives by the Dhamma.

So, this is the Buddha’s teaching, something that I thought I would pass along, something that I think is used to us as Buddhists. And I would like to encourage everyone to take this as a reminder that we should all make haste now that we have the chance to be born in a time when the Buddha’s teaching still exists, to actually practice and to develop our own minds and our own selves, to realize the truth of the Buddha’s teaching and become free from suffering for ourselves. Thank you for tuning in and I wish you all peace, happiness, and freedom from suffering.

Viet Hung | A Happiness pursuer | Author of The Happiness JournalTản mạn về Hạnh phúc and NGẪM CAFÉ
Sách tôi dịch: Tầm nhìn của PhápTrái tim thiền Phật giáo, Thiền cho người mới bắt đầu, Nổi loạn và tự doBài chú giải Kinh Mangala SuttaSức mạnh của sự hoài nghi và thiền chánh niệm (Vipassana)Những nguyên lý để sống hạnh phúcChúng ta đang sống vì điều gì?Sự cho đi và Tình thương yêu“Lấy tâm mình làm bạn của chính mình”Cảm xúcThiền với sự hình dung, Căng thẳngBản chất cao thượngHãy nương tựa vào chính mìnhKhuôn mặt vĩ đại trên núi đáNăm chướng ngại phát triển tâm linh và cách chinh phục
Get your source of inspiration and motivation toward reaching happiness here: https://www.viethungnguyen.com

2 thoughts on “[Bài Pháp] Người sống theo Pháp (One who lives by the Dhamma)

Gửi phản hồi