Hai phẩm tính của cái đẹp

Dưới đây là bản dịch Việt một bài pháp ngắn được dạy bởi Sư Yuttadhammo vào ngày 30/07/2024 tại tu viện Ratnapura Forest Monastery ở Sri Lanka. Video của bài pháp cùng với phần nội dung tiếng Anh tôi đã ghi xuống và chia sẻ ở bài sau: Beauty (sobhanakaranā dhammā).

Bài pháp ngày hôm nay được gọi là Sobhanakaranā dhammā, nói về hai phẩm tính làm cho con người trở nên đẹp đẽ. Sobhanakaranā là cách gọi trong kinh văn của truyền thống Phật giáo Thái Lan. Đức Phật chưa bao giờ dùng những từ này để mô tả về hai phẩm tính này. Nó bắt nguồn từ câu chuyện mà Đức Phật đã kể, thực ra là hai câu chuyện khác nhau. Đó là những câu chuyện về các vị vua dù có quyền lực to lớn, uy nghiêm nhưng vẫn hành động theo cách khiến họ trở nên đẹp đẽ. Bởi vì, họ sở hữu những phẩm tính này. Mặc dù họ có thể đè bẹp mọi sự chống đối và buộc mọi người phải hành động theo ý muốn của mình và thực tế là họ luôn làm theo ý mình, nhưng họ vẫn có thể hành động theo một cách đẹp đẽ hơn nhiều. Và Đức Phật đã dạy rằng, sẽ là đẹp đẽ hơn, vĩ đại hơn biết bao nhiêu nếu các tu sĩ có được các phẩm tính này. Hai phẩm tính giúp con người trở nên đẹp đẽ mà Ngài đã dạy là khantisoracca. Khanti là sự kiên nhẫn, kham nhẫn. Và soracca là sự điềm tĩnh. Đây là hai phẩm tính mà trong kinh văn của truyền thống Phật giáo Thái Lan đã chú giải rằng đó là những phẩm tính làm cho con người trở nên đẹp đẽ. Và điều này được hỗ trợ trong giáo lý Phật giáo.

Đức Phật đã không dành nhiều thời gian để nói về cái đẹp. Từ Pali nói về cái đẹp được Ngài sử dụng và được tham khảo đến trong kinh văn Thái Lan là sobhita, có nghĩa là xinh đẹp, rạng rỡ hay lộng lẫy. Sẽ tuyệt vời biết bao nếu bạn có được những phẩm tính này. Nó cho chúng ta cơ hội để nói về cái đẹp. Cái đẹp là một điều gì đó thú vị, một điều gì đó gây tranh cãi, một điều mà rõ ràng là Phật tử như chúng ta có phần cẩn trọng. Đức Phật cũng cẩn trọng khi đã dạy rằng, cái đẹp có thể là nguy hiểm, là si ám. Ngài đã dạy về sự si ám khi chúng ta cho rằng cơ thể mình là đẹp đẽ. Nếu muốn có một định nghĩa lành mạnh và tích cực về vẻ đẹp, cái đẹp, chúng ta cần phải tách biệt cái đẹp và sự hấp dẫn. Cái đẹp không hẳn phải là một thứ gì đó trông hấp dẫn. Bạn cũng không nhất thiết phải bị dính mắc vào những gì mà bạn thấy là đẹp đẽ. Tất nhiên, vẻ đẹp hình thể là mang tính chủ quan và không có giá trị gì lắm. Nhưng nếu xét về các mục đích trong thực hành, cái đẹp nói chung có thể mang một giá trị to lớn, chứ không nhất thiết chỉ là sự lôi cuốn. Ví như khi chúng ta nói về vẻ đẹp của sự hài hòa, vẻ đẹp của trí tuệ, hay vẻ đẹp của hai phẩm tính mà Đức Phật đã chỉ ra: kiên nhẫn và điềm tĩnh… Thật đẹp biết bao khi nhìn thấy sự kiên nhẫn, thấy sự điềm tĩnh, thấy được một con người kiên nhẫn, điềm tĩnh mà không có bất cứ một hành vi xấu xa nào.

Điều đó có một giá trị thực tế trong pháp hành Phật giáo. Bởi vì hai phẩm tính này là đặc biệt phi thường ở trong cách mà chúng được sở hữu bởi những ai đã thực hành giáo lý nhà Phật một cách sâu sắc. Những ai đã tu tập Phật pháp đến một mức độ nhất định sẽ sở hữu một mức độ kiên nhẫn và điềm tĩnh khó có thể tìm thấy được ở đời. Không phản ứng, không lơ mơ, không dễ nổi giận, không tham lam hay si ám. Giá trị mà nó tạo ra là sự tự tin. Dĩ nhiên, một trong những điều lôi cuốn nhất, có sức hút lớn nhất của bất kỳ giáo lý tâm linh nào chính là các phẩm tính mà những người thực hành giáo lý đó có được. Thậm chí, đôi lúc chúng tôi đã phải cảnh báo mọi người về việc bị cuốn hút quá mức vào một vị thầy có sức lôi cuốn đặc biệt, có sức thuyết phục đặc biệt. Nhưng thật là khó bỏ qua sự cuốn hút của một người có những phẩm tính tích cực. Khi chúng ta tìm thấy một vị thầy hoặc một cộng đồng sở hữu những phẩm tính này, khi chúng ta tham gia vào cộng đồng và thấy rằng việc thực hành một pháp hành nào đó giúp họ sở hữu được những phẩm tính này, điều đó có một sức cuốn hút lớn. Điều này có nghĩa là nếu mọi người thấy chúng ta có những phẩm tính này, sự điềm tĩnh và kiên nhẫn, điều đó sẽ cuốn hút họ. Đây là hai trong nhiều phẩm tính cuốn hút mọi người đến với Phật pháp, đến với pháp hành Phật giáo, đến với thiền viện.

Như vậy, cái đẹp là một từ mà bạn có thể dùng để nói về các thiện pháp, về những điều tốt đẹp, để nói về các phẩm tính và thành tựu nhất định trong pháp hành Phật giáo mà một người có thể đạt được. Vẻ đẹp đó mang lại giá trị, không phải do bởi bản thân các phẩm tính tích cực, mà là do bởi nó tạo nên sự tự tin. Nó có giá trị đối với mỗi một cá nhân. Chúng ta dùng từ “đẹp đẽ” để đối lập lại với những gì được gọi là xấu xí. Vậy điều gì là xấu xí nhỉ? Đó là một cách mô tả về những điều gây ra sự khó chịu, những gì gây ra căng thẳng và đau khổ. Trong khi đó, chúng ta có thể phát biểu rằng, trí tuệ là đẹp đẽ, các thiện pháp là đẹp đẽ, đó là những điều đẹp đẽ. Như vậy, một cái đẹp đích thực có thể được xem là một điều rất tốt đẹp. Quan trọng hơn là hai phẩm tính này của cái đẹp rất có giá trị, không chỉ mang lại vẻ đẹp không thôi, mà chúng là một phần không thể thiếu trong giáo lý của Đức Phật. Kham nhẫn là cốt lõi trực tiếp ở bên trong của pháp hành Phật giáo. Nó không phải là những lời dạy bổ trợ, mà nó là phần cốt lõi trong pháp hành Phật giáo. Kham nhẫn là một cách mô tả pháp hành chánh niệm.

Có hai loại kham nhẫn. Loại thứ nhất được gọi là adhivāsana khanti, sự chịu đựng, nhẫn nhục. Adhi có nghĩa là ở bên trên. Vāsana có gốc là vas, có nghĩa là trú ngụ, cư ngụ. Như vậy, adhivāsana có nghĩa là trú ngụ lại ở một nơi chốn nào đó hoặc ở trên một nơi chốn nào đó. Nó đề cập đến khả năng bền bỉ khi đối mặt với những tình huống khó khăn, những điều khó chịu cũng như không thể chịu đựng được. Sự bền bỉ này là một khía cạnh rất mạnh mẽ và quan trọng của việc tu tập chánh niệm. Thiền sinh mới thường nhanh chóng phải đối mặt với tình trạng thiếu kiên nhẫn, thiếu khả năng chịu đựng một số trải nghiệm nhất định, mà rõ ràng nhất là những sự đau đớn, khổ sở trên thân và tâm. Đó quả thật là một cú sốc khi họ phải đối mặt với những trải nghiệm này, trong khi những kiến ​​thức hoặc hiểu biết đã ăn sâu của họ lại cho rằng đau đớn và phiền não là điều cần phải tránh, rằng đau đớn là thứ mà chúng ta không nên cho phép. Tuy nhiên, rất nhiều kinh nghiệm của chúng ta trong cuộc sống này đã dạy chúng ta về sự cần thiết cũng như tầm quan trọng của việc cho phép cũng như chịu đựng sự đau đớn. Chánh niệm cần có mặt ở ngay thời điểm bắt đầu trải nghiệm sự đau đớn cũng như ở đỉnh điểm của nó. Cách tốt nhất để “học tập dựa trên nền tảng của sự trải nghiệm” chính là việc thực hành chánh niệm. Vì vậy, chánh niệm cần có mặt tại thời điểm chúng ta trải nghiệm sự đau đớn hoặc những điều khác ví như các âm thanh khó chịu, các tiếng động lớn, các tiếng động lặp đi lặp lại, những trải nghiệm mà chúng ta muốn né tránh. Đó là sự thực hành đối mặt trực tiếp với những điều mà bạn không muốn đối mặt. Và đó là bản chất của pháp hành chánh niệm. Có một điều mà chúng tôi thường phải liên tục nhắc nhở, đặc biệt đối với những thiền sinh mới, đó là tầm quan trọng và giá trị của việc đối mặt với mọi việc xảy ra như là một phương tiện để thay đổi quan kiến của bạn. Vấn đề ở đây không nằm ở bản thân trải nghiệm, mà vấn đề là bạn không có khả năng cho phép và chịu đựng trải nghiệm đó. Vì vậy, hầu hết thiền sinh mới đều phải đối mặt với tình trạng thiếu kiên nhẫn và việc không có khả năng chịu đựng những khó khăn xảy ra trong thiền. Một phần cốt lõi trong việc chuyển hoá tâm là cần phải ngừng lại nhu cầu của bạn về việc tránh né hoặc giải quyết các vấn đề, ngừng lại nhu cầu cần phải thay đổi các trải nghiệm, mà thay vào đó là khả năng đối mặt với chính các trải nghiệm của mình một cách chánh niệm và bình yên. Nói một cách khác thì đó là việc phát triển tính kham nhẫn, phát triển khả năng đối mặt với thực tại mà không căng thẳng hay đau khổ. Đó là điều mà hầu hết mọi người khó làm được. Và ở tận cùng của việc thực hành sự kham nhẫn thì nó sẽ không còn là sự chịu đựng, không còn là sự kiên nhẫn nữa. Khi đó, nó đơn giản chỉ là là các trải nghiệm. Mọi thứ khi đó không còn khiến bạn phải bận tâm nữa, là bởi vì bạn đã thay đổi cách nhìn của mình về chúng. Do đó, bạn không cần phải kiên nhẫn nữa. Tuy nhiên, quá trình chuyển hóa này rất giống với sự kiên nhẫn.

Đức Phật dạy rằng: “Khanti paramaṃ tapo titikkhā”. “Nhẫn nại, chịu đựng là khổ hạnh tối thượng”. Từ “titikkhā” có nghĩa là nhẫn nại, chịu đựng. Vào thời Đức Phật, người ta thường tự hành hạ mình, thực hành các hạnh khổ hạnh. Bạn hẳn đã nghe các câu chuyện về những vị tu khổ hạnh vào thời Đức Phật, bằng cách đứng một chân, nằm phơi nắng, nằm trên lửa hoặc nằm trên gai nhọn hay những thứ tương tự. Ý tưởng là nếu bạn tự bắt mình chịu đựng những sự đau đớn cực kỳ to lớn ngay trên chính cơ thể mình, thì bạn sẽ đoạn diệt được ham muốn về những thú vui dục lạc. Thực tế thì lại không vận hành như vậy. Nhưng ý tưởng về thực hành khổ hạnh là như thế, bạn có thể đốt cháy những phiền não trong cơ thể bằng cách hành hạ bản thân mình. Về cơ bản, Đức Phật đã dạy rằng, cách tra tấn duy nhất thực sự tốt là sự kiên nhẫn. Bởi vì nó thực sự làm được điều mà những nhà tu khổ hạnh này đang tìm cách đạt đến. Khi bạn có chánh niệm, khi bạn đối mặt một cách trực tiếp với mọi việc, điều đó thực sự đoạn diệt các phiền não của bạn. Bởi vì bạn không còn kích hoạt thói quen rằng: “Tôi phải khắc phục điều này. Tôi phải có được điều tôi muốn”, bạn không còn phải liên tục săn lùng các trải nghiệm tốt hơn so với những trải nghiệm bạn đang có ở hiện tại. Đó là adhivāsana khanti, sự chịu đựng, nhẫn nhục.

Loại kham nhẫn thứ hai là anulomika khanti, là loại kham nhẫn cao cấp hơn. Anuloma có nghĩa là sự phù hợp, nghĩa đen là thớ gỗ. Khi bạn cắt gỗ, bạn phải cắt theo thớ gỗ, nếu không nó sẽ không bị tách ra. Anulomika khanti có nghĩa là sự kiên nhẫn phù hợp với sự thật. Và đây là chỗ mà tôi đã phát biểu ở trên rằng, cuối cùng thì nó thậm chí không còn giống với sự kiên nhẫn nữa. Sự kiên nhẫn này đến từ trí tuệ và nó không chỉ áp dụng cho những trải nghiệm khó chịu mà thôi. Loại kiên nhẫn này áp dụng cho tất cả mọi loại trải nghiệm. Khi việc thực hành chánh niệm phát triển, bạn không chỉ có được cảm giác kiên nhẫn mà bạn còn có được một sự hiểu biết rằng không có gì đáng để mình phải phản ứng lại cả. Những căng thẳng và đau khổ mà bạn đang phải chịu đựng có nguồn gốc xuất phát từ việc thích hoặc không thích, từ việc phán xét, dính mắc cũng như từ việc đồng hoá bản thân mình với nó và điều đó là vô giá trị, là vô nghĩa. Và rồi bạn sẽ có được sự kiên nhẫn đối với cả những điều tốt đẹp cũng như đối với tất cả mọi thứ. Những gì đã từng là hấp dẫn giờ không còn là hấp dẫn nữa, không còn thu hút bạn cũng như không còn khiến bạn hứng thú được nữa. Bạn có được một cảm giác tự do sâu sắc rằng không có gì có thể lôi kéo hay chi phối bạn được nữa. Bạn không còn phải phụ thuộc vào bất cứ điều gì nữa. Không còn những thứ kiểu như: “Nó phải như thế này, nếu không tôi sẽ không vui”. “Nó không nên xảy ra như vậy, nếu không tôi sẽ không vui”. Thay vào đó, bạn có được một sự kiên nhẫn phù hợp với những gì thực tế đang xảy ra. Ví dụ như câu phát biểu: “Tôi muốn mọi việc xảy ra khác đi, chứ không phải như những gì hiện tại đang xảy ra đối với tôi”, đó là một phát biểu trái ngược với thực tế, đúng không? Tôi muốn nó diễn ra một cách khác đi, khác với những gì thực tế đang diễn ra. Điều đó có nghĩa là bạn không còn tuân theo trải nghiệm mà thực tế đang xảy ra nữa. Một sự kiên nhẫn đích thực không phải là “nó phải như thế này, hay nó phải như thế kia”, mà chỉ đơn giản rằng “nó là những gì đang diễn ra”, đúng không nhỉ? Thực hành chánh niệm dạy chúng ta cách sống với thực tế, đúng như nó vốn có mà không có bất kỳ một phán xét hay phản ứng nào. Và điều này dẫn đến cái mà chúng ta gọi là anuloma. Anuloma có nghĩa là sự phù hợp. Như vậy, điều mà chúng ta đang xây dựng thông qua việc thực hành kiên nhẫn, thông qua việc thực hành chánh niệm rốt cuộc là trạng thái kiên nhẫn này: Không phản ứng đối với bất cứ điều gì.

Phẩm tính thứ hai soracca được tôi dịch là sự điềm tĩnh. Đó vốn không phải là nghĩa được tra cứu ra trong từ điển. Hãy xem xét gốc của từ này. Tôi cho rằng, soracca, racca có gốc từ chữ rac. Động từ này liên quan đến sự kiềm chế, bị kiềm chế, tiết chế bản thân. Và “so” có gốc từ chữ su, dẫn xuất từ chữ suratto. Suratta là một từ mà bạn nghe thấy thường xuyên hơn soracca. Soracca không phải là từ mà bạn thường xuyên nghe thấy. Nhưng nó là một dạng của gốc của từ này với tiền tố gắn vào ở phía trước. Và đây là cách mà Đức Phật mô tả trực tiếp về từ này, đó là không có những vi phạm thuộc về hành động trên thân hay lời nói… Mà thực ra đó là từ các bản chú giải. Tôi không nghĩ là Đức Phật đã giải thích về từ này. Dù sao đi nữa, thì nó có trong kinh điển. Kinh điển nói rằng sự điềm tĩnh nghĩa là không vi phạm. Như bạn đã biết là có ba loại phiền não: Phiền não do bởi những tội lỗi đã vi phạm, những phiền não mới chỉ xảy ra ở trong tâm và những phiền não chưa khởi sinh. Có ba cấp độ như vậy. Về cơ bản thì đó là đạo đức, là phần giới trong việc tu tập. Nhưng soracca là một thứ khiến cho một người trở nên đẹp đẽ. Ý tưởng đứng đằng sau nó là về một người không vi phạm giới luật, nói chung là có hành vi tốt. Như vậy, suratta có nghĩa là tiết chế. Một sự tiết chế tốt có thể đơn giản chỉ là ngồi một cách định tĩnh, thay vì bồn chồn. Khi một ai đó nói điều mà bạn không thích, đừng nhăn mặt, đừng buồn bã, đừng bối rối. Thường thì khi bị ai đó mắng, chúng ta sẽ đỏ mặt và khó chịu. Đó không phải là điềm tĩnh, đúng không nhỉ?

Các chú giải cũng nói rằng, sự điềm tĩnh tương đương với thánh quả A-la-hán. Và bạn cũng có thể phát biểu điều tương tự như vậy về sự kiên nhẫn, rằng người thực sự kiên nhẫn, người duy nhất thực sự kiên nhẫn, là một bậc giác ngộ. Một chúng sinh thực sự đẹp đẽ như vậy chính là một chúng sinh đã giác ngộ. Một khía cạnh có giá trị khác của việc niệm tưởng về các phẩm tính này là cách nó sẽ khuyến khích chúng ta hoặc giúp chúng ta hiểu rõ hơn về bậc giác ngộ, rằng một bậc giác ngộ sẽ hoàn toàn điềm tĩnh và kiên nhẫn một cách toàn hảo. Trong khi chúng ta không thể tu tập và ngay lập tức đạt được thành tựu giác ngộ viên mãn, chúng ta vẫn có thể tích cực noi gương theo những phẩm tính tốt đẹp này. Vị thầy của tôi đã dạy như vậy. Thật có giá trị khi nghiền ngẫm sâu sắc về việc giác ngộ sẽ là như thế nào. Ví dụ, như các bạn biết đấy, chúng ta rèn luyện sự điềm tĩnh một cách “nhân tạo”. Một cách tự nhiên thì tôi không điềm tĩnh, mà thay vào đó là bồn chồn. Một cách tự nhiên thì tôi sẽ khó chịu khi mọi người nói những điều nhất định nào đó. Tuy nhiên, tôi sẽ hiểu và đánh giá cao giá trị của sự điềm tĩnh, tôi biết tầm quan trọng của sự điềm tĩnh, tôi biết được một con người điềm tĩnh thì cao quý đến nhường nào. Từ đó, tôi hiểu được mình đang thiếu điều gì cũng như biết cách để uốn nắn tâm mình. Vì vậy, khi tôi trở nên khó chịu, khi tôi có các hành động cũng như lời nói làm tổn thương người khác hoặc để trả thù,… tôi biết rằng, đó không phải là các hành động đúng đắn. Đó đơn thuần chỉ là một thói quen xấu trong tôi. Đó không phải là cách tiến về phía trước. Đó không phải là các hành động có giá trị và ý nghĩa… Và cái đẹp cũng hoạt động theo một cách tương tự. Chúng ta biết rằng mình không hoàn toàn đẹp đẽ, đôi khi chúng ta xấu xí. Chúng ta nói những điều khiến chúng ta trở nên xấu xí. Chúng ta làm những việc khiến chúng ta trở nên xấu xí. Chúng ta hành động và tự đày đoạ bản thân mình theo những cách không mấy đẹp đẽ mà đáng lẽ không nên là như thế, khi chúng ta so sánh với những gì mà các bậc giác ngộ hành động. Tuy nhiên, những việc này có giá trị ở chỗ nó sẽ nhắc nhở chúng ta về những phẩm tính xấu xa mà tâm chúng ta vẫn còn có, và tầm quan trọng của việc cần phải giải quyết chúng. Đó là những lời dạy có giá trị. Đó là những điều cần ghi nhớ. Nó cũng sẽ hỗ trợ chúng ta trong việc lan toả các phẩm tính này, khi chúng ta chia sẻ các phẩm tính này với những người xung quanh. Và khi nói về cái đẹp, chúng ta có thể nói về sự kiên nhẫn và điềm tĩnh. Đó là điều khiến một người thực sự trở nên đẹp đẽ. Những lời dạy này là có giá trị, đặc biệt đối với những ai chưa từng nghe về Phật pháp, để hiểu được những gì Đức Phật đã dạy. Đó là bài pháp cho ngày hôm nay.

Viet Hung | A Happiness pursuer | Author of The Happiness JournalTản mạn về Hạnh phúc and NGẪM CAFÉ
Sách tôi dịch: Trái tim thiền Phật giáo, Thiền cho người mới bắt đầu, Nổi loạn và tự doBài chú giải Kinh Mangala SuttaSức mạnh của sự hoài nghi và thiền chánh niệm (Vipassana)Những nguyên lý để sống hạnh phúcChúng ta đang sống vì điều gì?Sự cho đi và Tình thương yêu“Lấy tâm mình làm bạn của chính mình”, Cảm xúc, Thiền với sự hình dung, Căng thẳng, Bản chất cao thượng
Get your source of inspiration and motivation toward reaching happiness here: https://www.viethungnguyen.com

One thought on “Hai phẩm tính của cái đẹp

Gửi phản hồi