Ghi chú về căn bệnh thế kỷ mang tên "trầm cảm"

Hiện nay, căn bệnh nguy hiểm mang tên “trầm cảm”, căn bệnh của thế giới hiện đại, đã và đang hiện diện ở khắp mọi nơi xung quanh chúng ta. Trong bài viết này, tôi cố gắng thu thập và ghi chép lại một cách ngắn gọn các thông tin về căn bệnh mệnh danh “sát thủ thầm lặng” này. Tôi sẽ từ từ cập nhật bài viết này mỗi ngày.

Số liệu chính thức

  • Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), trầm cảm hiện là căn bệnh phổ biến toàn cầu với hơn 300 triệu người mắc bệnh.
  • Theo dự đoán của các chuyên gia, đến năm 2020, trầm cảm đứng thứ hai trong việc tác động đến cuộc sống loài người, chỉ sau bệnh tim mạch. Trầm cảm hiện đang là nguyên nhân gây khuyết tật hàng đầu thế giới.
  • WHO ước tính có khoảng 3,5 triệu người Việt mắc bệnh trầm cảm, tương đương 4% dân số. Một thống kê của bệnh viện Bạch Mai ở Hà Nội cho biết có khoảng 40,000 ca tự tử mỗi năm do trầm cảm.

Định nghĩa

  • Tôi học được một vài định nghĩa của căn bệnh tâm lý nguy hiểm này. Một trong những định nghĩa thường gặp và có thể sử dụng cho cả người trưởng thành và trẻ em là trầm cảm được định nghĩa như là một trạng thái lo lắng, sợ hãi kéo dài, mà không giải quyết được. Với định nghĩa như trên thì chúng ta có thể yên tâm là ai cũng mắc phải căn bệnh này, không nặng thì nhẹ. Chúng ta có quá nhiều trách nhiệm, gánh nặng và áp lực trong cuộc sống hiện đại. 
  • Một định nghĩa khác tôi tìm thấy được cho hiện tượng trầm cảm là việc không kiềm chế được các suy nghĩ cứ luôn tuôn trào trong tâm trí. Không ít người chúng ta có bệnh nghiện suy nghĩ, suy nghĩ nhiều hơn mức cần thiết. Và đến một mức độ nào đó, suy nghĩ cứ thế dẫn dắt chúng ta đi lang thang suốt ngày, không ngừng nghỉ. Tâm trí cũng là một “cỗ máy”, cần được nghỉ ngơi, nhưng lại bị lạm dụng suốt ngày. Và kết quả là chúng ta trở nên bất bình thường.

Tuy hai định nghĩa trên về trầm cảm có thể khác nhau, nhưng các hiện tượng của người trầm cảm thì tựu trung lại trong một vài triệu chứng phổ biến: thích đóng kín cửa một mình, không muốn giao tiếp với ai, không ra ngoài thiên nhiên với ánh sáng tự nhiên, mất ngủ triền miên. Chính vì tâm trí động loạn, nên giấc ngủ chẳng được yên và mọi vấn đề đều bắt nguồn từ đó. Thiếu ngủ chắc chắn làm cơ thể kiệt quệ vì cơ thể không được nghỉ ngơi đúng mức. Và cái vòng luẩn quẩn cứ thế tiếp diễn. Do không được nghỉ ngơi đủ nên tâm trí cứ mơ màng, không tỉnh táo, cơ thể mệt mỏi, làm việc không hiệu quả, rồi lại căng thẳng hơn, trầm cảm hơn, rồi lại tiếp tục không ngủ được, lại tiếp tục rối loạn các chức năng trong cơ thể như thần kinh, gan, thận, mật, tim, … Một vòng luẩn quẩn. Trầm cảm có thể không trực tiếp gây nên cái chết, nhưng chính sự suy giảm và rối loạn chức năng trong cơ thể, mà nguồn gốc bắt đầu từ căn bệnh trầm cảm, khiến cơ thể bạn yếu đi, trở nên bệnh tật và dẫn đến những tình huống hiểm nghèo hơn và kết thúc bằng việc đột quị hoặc mang phải các bệnh tật trong cơ thể như trào ngược thực quản, viêm dạ dày và đến một lúc nào đó chuyển sang ung thư dạ dày. Một cỗ xe mục nát, phải dừng lại đột ngột, khi vẫn đang còn chạy trên đường.

Nhận biết trầm cảm

Hầu hết chuyên gia và bác sĩ tâm thần trên thế giới sử dụng Cẩm nang Chẩn đoán và Thống kê về Rối loạn Tâm thần để chẩn đoán trầm cảm. Hai dạng trầm cảm được biết tới nhiều nhất: Rối loạn trầm cảm chủ yếu và Rối loạn trầm cảm dai dẳng.

Trầm cảm chủ yếu: Nếu bạn có tất cả các triệu chứng sau, kéo dài ít nhất hai tuần, xảy ra gần như xuyên suốt mỗi ngày.

  1. Luôn buồn bã, lo âu hoặc trống rỗng (đối với trẻ vị thành niên có thể bao gồm cả sự cáu kỉnh).
  2. Mất hứng thú và niềm vui với hầu hết sở thích và hoạt động tích cực trước đây, dẫn tới việc ngừng tham gia hoặc rút lui khỏi giao tiếp xã hội.
  3. Cảm thấy tuyệt vọng, tội lỗi hoặc bất lực. Cá nhân thường tự đổ lỗi về những việc nhỏ nhặt nhất và đánh giá mình là vô dụng, vô giá trị.
  4. Cảm thấy mệt mỏi và mất năng lượng. Những sinh hoạt đơn giản nhất như tắm rửa, mặc quần áo cũng trở nên khó khăn.
  5. Khẩu vị thay đổi, sụt cân hoặc tăng cân bất thường.
  6. Mất ngủ hoặc ngủ quá nhiều.
  7. Không thể tập trung, suy ghĩ hay đưa ra những quyết định, trí nhớ suy giảm, sa sút trong học tập hay công việc.
  8. Biểu hiện về hành vi: Các chuyển động hoặc lời nói chậm dần (được quan sát bởi người khác). Các hoạt động thể chất không mục đích tăng dần (ngẩn người trong thời gian dài, hay xoắn các ngón tay lại, …)
  9. Có ý tưởng hoặc hành vi tự hại, tự sát.

Trầm cảm dai dẳng: Nếu bạn có hai hoặc nhiều hơn các triệu chứng sau, nhưng thời gian kéo dài ít nhất hai năm hoặc một năm đối với trẻ em và trẻ vị thành niên.

  1. Tâm trạng chán nản, u sầu trong phần lớn thời gian.
  2. Mất cảm giác ngon miệng hoặc ăn quá nhiều.
  3. Ngủ quá ít hoặc quá nhiều.
  4. Ít năng lượng, mệt mỏi thường xuyên.
  5. Lòng tự tôn thấp, cảm thấy bản thân vô giá trị, mất tự tin.
  6. Sức tập trung kém, khó đưa ra quyết định.
  7. Cảm thấy tuyệt vọng về cuộc sống.

Các mức độ trầm cảm

Bệnh trầm cảm có thể chia thành ba mức độ: Nhẹ, trung bình và nặng.

  • Mức độ nhẹ: Người bệnh có từ năm triệu chứng trở xuống, trong đó có một triệu chứng chính. Ở giai đoạn này, họ vẫn có thể hoạt động bình thường nhưng cần nỗ lực đáng kể.
  • Mức độ trung bình: Số triệu chứng, mức độ bất lực nằm ở giữa mức độ nhẹ và nặng.
  • Mức độ nặng: Các triệu chứng của người bệnh là rất rõ ràng. Họ bất lực trong các sinh hoạt thường ngày, dù là việc nhỏ nhất.

Một số dấu hiệu bên ngoài của con em, người thân khi mắc trầm cảm:

  • Mất đi niềm vui hoặc giả vờ vui vẻ: Con em ít khi hoặc không bao giờ cười thoải mái hay thể hiện niềm vui nồng nhiệt. Nguy hiểm hơn là khi chúng giả vờ vui vẻ, chứng tỏ bệnh lý đã trầm trọng.
  • Thái độ tiêu cực: Con em hay thốt lên những lời chán nản, bi quan như “chán quá”, “cái gì cũng vô nghĩa”, “chẳng giải quyết được gì đâu”,… Nếu tình trạng này kéo dài hàng tuần, hãy cẩn thận. Càng nguy hiểm hơn nếu chủ đề câu chuyện xuất hiện cái chết hoặc tự tử.
  • Mất tập trung: Nếu con em bạn tỏ ra lơ đễnh hoặc khó tập trung ngay cả những việc dễ dàng nhất, hãy chú ý nhiều hơn.
  • Cảm thấy tội lỗi: Con em thường tự đổ lỗi cho bản thân, từ những việc vặt vãnh đến nghiêm trọng.
  • Có sự thay đổi đột ngột theo chiều hướng xấu trong sinh hoạt và học tập: Cần để ý khi con em đột nhiên ngưng thực hiện các hoạt động yêu thích như chơi thể thao, âm nhạc, sinh hoạt câu lạc bộ. Kết quả học tập giảm sút.
  • Rối loạn giấc ngủ và cân nặng: Mất ngủ hoặc ngủ nhiều, tăng hoặc sụt cân trong thời gian ngắn, là những dấu hiệu dễ thấy nhất.
  • Sử dụng chất kích thích: Khi mắc trầm cảm, nhiều thanh thiếu niên tìm đến rượu hay ma tuý như một liều thuốc giảm đau. Do đó, đừng chỉ trừng phạt khi phát hiện con em bạn lén lút sử dụng chất kích thích. Hãy cân nhắc về trầm cảm.

“Sử dụng mạng xã hội” tăng nguy cơ trầm cảm?

Sử dụng mạng xã hội bản thân nó không phải là việc xấu. Tuy nhiên, do chúng ta có xu hướng so sánh “tốt / xấu”, “hơn / thua”, “buồn / vui”, … với những gì chúng ta thấy mọi người chia sẻ về họ với cuộc sống của chính bản thân mình nên chúng ta có xu hướng bị áp lực lên chính bản thân mình. Và đó chính là “nhân” của trầm cảm. Nếu chúng ta sử dụng mạng xã hội chừng mực và chú ý tránh “bẫy” của việc tự so sánh, chúng ta có thể tự cho mình liều thuốc “miễn nhiễm” với áp lực, với trầm cảm.

Nguyên tắc cơ bản đối phó với trầm cảm và lo âu

Đối phó với lo âu cần tới sự trợ giúp, nhất thiết đừng để lo âu bị cộng thêm cảm giác cô độc. Lo âu khác với trầm cảm. Trầm cảm là mất động lực, mất sự thôi thúc phải suy nghĩ, hành động. Ngược lại, lo âu là bị thôi thúc quá nhiều, những ý nghĩ bị thúc đẩy, đưa vào ngõ cụt, khiến cho chúng ta mất sáng suốt. Do vậy, nếu như trầm cảm cần có khoảng lặng nhất định, thì lo âu nhất thiết cần có sự sẻ chia, lắng nghe tích cực và động viên kịp thời.

Tham khảo

Trong bài này tôi có tham khảo và trích dẫn thông tin từ các cuốn sách sau:

Chuyên mục