[TTTPG] III.5. Trích dẫn từ tác phẩm của Ngài Tịch Thiên (Sāntideva)

Phần trước | Mục lục | Phần kế

Bản tóm tắt về tu tập tâm linh (trích dẫn từ Tập Học Luận – Sšiksa-samuccaya)

77. Từ Chương VI: Tự bảo vệ mình

Làm thế nào để một người tự bảo vệ mình?

Bằng cách trốn tránh những điều thấp kém.

Và điều này đạt được bằng cách nào?

Bằng cách trốn tránh sự lãng phí vô ích.

Và điều này có thể được thực hiện bằng cách nào?

Bằng cách chánh niệm liên tục,

(thiền sinh) sẽ đạt được (điều đó) trong sự mãnh liệt, bởi lòng nhiệt thành cống hiến.

Và lòng nhiệt thành sẽ sinh khởi nếu người ấy biết rằng, 

Sự vĩ đại bắt nguồn từ chính sự tĩnh lặng tự bên trong mình.

Kārika 7–8

Có mười hai cách áp dụng chánh niệm nhằm tránh những sự lãng phí vô ích (hoặc các nỗ lực vô ích):

1. Thiền sinh cần có chánh niệm cung kính các kết quả của việc giữ gìn và không vi phạm những lời dạy của Đức Như Lai.

2. Thiền sinh cần chánh niệm về việc duy trì thân ở trạng thái không chuyển động (nếu không có hoạt động nào cần được thực hiện).

3. Nhưng khi cần hoạt động, thiền sinh không nên phản ứng ngay lập tức, thay vào đó, thoạt đầu thiền sinh nên duy trì trạng thái không chuyển động, do bởi sẽ cần có một mức độ chánh niệm mạnh mẽ hơn được sử dụng cho hành động sắp tới. Giữ các mong muốn của mình trong sự kiểm soát, thiền sinh hướng chánh niệm đến hành động một cách thận trọng và trọn vẹn.

4. Thiền sinh cần chánh niệm giữ cho cơ thể được kiểm soát, khi có bất kỳ sự xáo trộn nào ví như (các hoạt động) lễ hội hoặc nguy hiểm (rình rập).

5· Thiền sinh cần chánh niệm khi quán xét bốn tư thế (của thân).

6. Thiền sinh cần chánh niệm chú tâm quán sát liên tục sự vi tế trong các tư thế (của thân), để đề phòng những sai lệch trong các tư thế (của thân mình).

7. Trong khi nói chuyện, thiền sinh cần chánh niệm để không thực hiện các cử động tay, chân và đầu một cách quá mức và không phù hợp, hoặc không thay đổi nét mặt (một cách quá mức và không phù hợp), do quá vui mừng, quá kiêu ngạo, quá phấn khích, hay quá thiên vị, …

8. Thiền sinh cần chánh niệm chỉ nói bằng giọng sao cho người nghe có thể hiểu được, không lớn tiếng quá; nếu không sẽ mắc lỗi bất lịch sự.

9. Nếu rơi vào hoàn cảnh khó khăn khi gặp phải những người ít học, thiền sinh nên chánh niệm rằng các suy nghĩ của chính mình vẫn có thể được chấp nhận và là dễ hiểu đối với tâm trí của người khác.

10. Thiền sinh cần chánh niệm rằng tâm như con voi nằm động dục, nên luôn phải cần được cột chặt vào cột trụ của sự định tĩnh ở bên trong.

11. Thiền sinh cần chánh niệm liên tục xem xét trạng thái của tâm mình trong từng khoảnh khắc.

12. Khi tụ tập nơi đông người, thiền sinh cần nhớ các quy tắc trên để duy trì chánh niệm, ngay cả khi điều đó có nghĩa là phải từ bỏ các hoạt động khác.

Bằng cách sử dụng chánh niệm như vậy, thiền sinh sẽ thành công trong việc tránh được những sự lãng phí vô ích (hoặc các nỗ lực vô ích). Và đó là, “chánh niệm đạt được trong sự mãnh liệt nhờ nhiệt thành cống hiến”.  “Nhiệt thành cống hiến” có nghĩa là toàn tâm toàn ý với việc mình đang làm; trái ngược với sự tuỳ tiện, cẩu thả (trong khi mọi người làm công việc của mình).

Và lòng nhiệt thành này “sẽ sinh khởi nếu một người biết rằng, sự vĩ đại bắt nguồn từ chính sự tĩnh lặng tự bên trong mình”. Sự “tĩnh lặng” đó là gì? Đó là sự định tĩnh được mô tả trong Kinh Arya Sanghata: “Sự định tĩnh không dao động này là gì? Đó là tâm an lạc, thân an lạc, các căn môn được kiểm soát không phóng dật; đó là tự do thoát khỏi dao động, khỏi phóng túng, khỏi trạo cử và tính không kiên định; (tâm) có được tính hòa nhã, tự chủ, có trách nhiệm, cư xử có văn hóa, bình tĩnh; tránh đám đông và hứng thú với việc độc cư; thân ẩn cư và tâm không phóng dật; tâm hướng về cuộc sống nơi rừng núi; tiết kiệm, kiểm soát tư thế; biết đúng thời điểm, đúng cơ hội, đúng biện pháp và duy trì sự giải thoát ở trong tâm; dễ hỗ trợ, dễ thỏa mãn, …”

Và “sự vĩ đại bắt nguồn từ chính sự tĩnh lặng tự bên trong mình” là gì? Đó là khả năng tạo ra sự hiểu biết về mọi thứ như chúng thực sự là. Vì vậy, bậc Đại Thánh (Đức Phật) đã dạy rằng: “Người có định tâm hiểu biết các pháp (vạn vật) như chúng thực sự là.”

Nên biết thêm rằng, thông qua “sự vĩ đại bắt nguồn từ chính sự tĩnh lặng tự bên trong mình”, một người có thể bảo đảm, cho chính mình và cho những người khác, thoát khỏi vô số đau khổ, chẳng hạn như sự tái sinh trở lại trong các cõi giới đau khổ; rằng một người có thể mang lại cho chính mình và những người khác, niềm hạnh phúc vô lượng, thế tục cũng như siêu thế; và rằng, cuối cùng, người ấy có thể đạt đến Bờ Bên kia (Niết-bàn — Nibbāna). Biết được điều này, người ấy nên trau dồi một tinh thần khao khát sự tĩnh lặng tự bên trong đó.

Giống như người đang bị mắc kẹt trong một ngôi nhà cháy mong có nước mát, sự mãnh liệt và nhiệt thành thiết tha tu tập (giới, định, tuệ) của vị ấy được thấm đẫm với lòng khát khao mạnh mẽ. Nhờ vào sự nhiệt tâm đó, chánh niệm sẽ được thiết lập vững chắc; và chánh niệm vững vàng sẽ giúp (vị ấy) tránh được những điều vô ích. Người tránh được những điều vô ích thì ở bên trong người ấy sẽ không sinh khởi những điều vô ích, thấp kém và không lợi ích.

Vì vậy, người muốn tự bảo vệ mình, cần đi đến tận gốc rễ (của sự bảo vệ) là chánh niệm, và cần liên tục duy trì chánh niệm.

78. Trích dẫn từ Kinh Arya-Ratnamegha Sutra

Vạn pháp đều có tâm đi liền ngay trước đó. Biết tâm thì biết được tất cả.

Tâm quay cxuồng như một ngọn lửa vung vẩy; tâm dao động như sóng; tâm cháy nóng như lửa rừng; tâm trào dâng như thác lũ. Người xem xét kỹ lưỡng được điều này, thì vị ấy sẽ sống với chánh niệm được hướng dẫn kỹ càng từ bên trong tâm mình. Vị ấy sẽ không bị khuất phục trước quyền năng của tâm trí, mà sẽ làm chủ tâm trí. Nếu làm chủ được tâm trí thì vạn pháp được làm chủ.

79. Tránh khỏi sự mất tập trung (vào đề mục thiền)

Do không có tỉnh giác và thiếu chánh niệm, tâm trở nên không ổn định. Bởi vì, nó cho phép chính nó chuyển hướng khỏi mục tiêu (đề mục thiền). Nhưng nếu tránh được sự bận tâm quá mức đối với các hoạt động ở bên ngoài, nhờ vào sự trợ giúp của chánh niệm và tỉnh giác, thì tâm có thể kiên định bám vào một đối tượng duy nhất bao lâu tùy ý.

80. Tự bảo vệ

Kinh Arya-Sagaramati Sutra. Còn có một quy tắc khác có thể được coi là mẫu mực của Đại thừa: “Bằng cách cẩn thận tránh cho bản thân mình bị vấp ngã, vị ấy sẽ bảo vệ tất cả mọi chúng sinh.”

Bodhisattva-Pratimoksa. Này hỡi Sāriputra, nếu một người muốn bảo vệ người khác, thì người đó nên bảo vệ chính mình.

Từ Chương XIII: Các nền tảng của chánh niệm

81. Pháp hành Tứ Niệm Xứ liên quan đến thân

Với một cái tâm đã trở nên mềm mại, dễ uốn nắn (bằng các thực hành chuẩn bị được mô tả trong các chương trước của Tập Học Luận), thiền sinh nên bắt đầu thực hành Tứ Niệm Xứ. Ở đây, pháp hành Tứ Niệm Xứ liên quan đến thân đã được trình bày trong pháp quán thân bất tịnh.

Điều này đã được nói trong Kinh Phúng Tụng: “Lại còn nữa, này hỡi thiện nam tử, Bồ-tát hướng chánh niệm của vị ấy về thân như sau: ‘Thân này chẳng qua chỉ là một tập hợp của bàn chân, ngón chân, cẳng chân, ngực, hông, bụng, rốn, cột sống, tim, xương sườn, bàn tay, cánh tay, vai, cổ, hàm, trán, đầu và hộp sọ. Nó được tạo ra bởi tiến trình Nghiệp (karma-bhava-kāraka; tức là Ái dục), và nó đã trở thành nơi trú ngụ của hàng trăm ngàn uế nhiễm, ham muốn và tưởng tượng khác nhau.

Thân này không đến từ quá khứ và sẽ không đi vào tương lai. Nó không hiện hữu trong quá khứ hay tương lai, ngoại trừ (tồn tại chỉ) trong những sự tưởng tượng không thật và sai lầm. Nó không có một thực thể (vốn có) đang hoạt động và cảm nhận; phần đầu, phần giữa, cũng như phần cuối của nó đều không có gốc rễ vững chắc ở bất cứ nơi đâu; nó không phải là chủ, nó không phải là của tôi, và bản thân nó không có tài sản gì. Với những cái tên quy ước ngẫu nhiên, nó được gọi là: cơ thể, khung cơ thể, ‘kho báu’, ‘vật chứa’, ‘xác chết’,… Thân thể này không có cốt lõi, được tạo ra bởi máu của người mẹ và tinh dịch của người cha; nó có bản chất ô uế, thối rữa và hôi hám; nó bị khó chịu do bởi sự xâm nhập của những tên trộm như tham, sân, si, sợ hãi và tuyệt vọng; nó liên tục bị phơi bày trước sự đổ sập và sụp đổ, suy tàn, tan rã và hủy diệt; và nó là nơi sản sinh ra hàng trăm ngàn bệnh tật khác nhau.”

82. Pháp hành Tứ Niệm Xứ liên quan đến thọ

Kinh Arya-Ratnacuda Sutra (Bảo Kế Kinh) có dạy rằng: 

“Khi Bồ-tát thực hành quán thọ trên các cảm thọ, vị ấy khởi lên một lòng đại bi đối với những chúng sinh bám chấp vào hạnh phúc của các cảm thọ. Và vị ấy học hỏi một các kỹ lưỡng để hiểu được rằng: ‘Hạnh phúc nằm ở nơi không có cảm thọ’. Vị ấy thực hành quán xét cảm thọ trên các cảm thọ, với mục đích (giúp đỡ) tất cả chúng sinh từ bỏ (dính mắc vào) cảm thọ. Để (hiện thực) sự chấm dứt cảm thọ trong chúng sinh, vị ấy mặc vào cái áo giáp của mình; nhưng đối với chính mình, vị ấy không cố gắng theo đuổi sự chấm dứt của cảm thọ.

Bất kỳ cảm thọ nào của vị ấy đều được lan tỏa bởi một lòng trắc ẩn sâu sắc. Khi kinh nghiệm một cảm thọ dễ chịu, vị ấy khởi lòng bi mẫn sâu sắc đối với những chúng sinh có tính cách rất dễ ham muốn, và chính vị ấy từ bỏ khuynh hướng ham muốn. Khi kinh nghiệm một cảm giác khó chịu, vị ấy khởi lòng bi mẫn sâu sắc đối với những chúng sinh có tính cách rất dễ sân hận, và chính vị ấy từ bỏ khuynh hướng sân hận. Khi kinh nghiệm một cảm giác trung tính, vị ấy khởi lòng bi mẫn sâu sắc đối với những chúng sinh có tính cách rất dễ si mê, và bản thân vị ấy từ bỏ khuynh hướng si mê.

Vị ấy không bị cảm thọ thích thú lôi cuốn, mà nỗ lực đoạn trừ ái dục. Vị ấy không bị đẩy đuổi bởi một cảm giác khó chịu, nhưng cố gắng để loại bỏ sự ghê tởm. Vị ấy không bị một cảm giác trung tính bỏ rơi trong vô minh, mà cố gắng đoạn trừ vô minh.

Đối với bất cứ cảm thọ nào vị ấy kinh nghiệm, vị ấy hay biết rằng nó là thoáng qua; là khổ; là vô ngã. Vị ấy cảm thấy lạc thọ là thoáng qua; khổ thọ giống như một cái gai; xả thọ là yên bình. Như vậy, thực sự là những gì dễ chịu chỉ là thoáng qua; những gì khó chịu cũng (mang bản chất thoáng qua) như những gì là dễ chịu, và trung tính không có bản ngã.”

83. Pháp hành Tứ Niệm Xứ liên quan đến tâm

Kinh Arya-Ratnakuta Sutra (Bảo Tích Kinh) có dạy rằng: “Vị ấy quán xét tâm mình như sau: Có phải đó là tâm tham, sân, hay si không? Nó là tâm suy nghĩ về quá khứ, tương lai hay hiện tại? Những gì trong quá khứ thì đã trôi qua; tương lai thì chưa đến; tâm ở hiện tại lại đang không có sự ổn định. Này hỡi Kasyapa, tâm không thể được tìm thấy ở bên trong, ở bên ngoài, cũng như ở khoảng giữa (của bên trong và bên ngoài). Này hỡi Kasyapa, tâm không có hình dạng (vô tướng), không nhìn thấy được, không sờ mó được, không thể tưởng tượng được, không chỗ dựa, không chỗ trú ẩn, …

Này hỡi Kasyapa, tâm giống như ảo giác đánh lừa của một ảo thuật gia; nó sinh khởi (hoặc tái sinh – upapatti) dưới nhiều hình thức, thông qua các suy nghĩ, tưởng tượng không phù hợp với những gì thực tế xảy ra. Này hỡi Kasyapa, tâm giống như dòng chảy của một con sông, không bao giờ đứng yên: Xuất hiện, vỡ vụn, rồi biến mất. Tâm giống như ánh sáng của ngọn đèn, luôn cháy sáng bởi nguyên nhân (nhân) và điều kiện (duyên). Tâm giống như một tia chớp, (chỉ tồn tại) trong một khoảnh khắc, chấm dứt, và không kéo dài. Tâm giống như một không gian, bị ô nhiễm bởi những bất tịnh ngẫu nhiên… Tâm giống như một người bạn xấu, bởi vì nó mang đến đủ loại đau khổ.

Này hỡi Kasyapa, tâm giống như một miếng mồi cho cá: Với một vẻ bên ngoài dễ chịu, nhưng lại gây đau đớn; nó giống như những con ruồi xanh, coi những gì không trong sạch là thanh tịnh. Tâm giống như một kẻ thù gây ra nhiều phiền não. Tâm giống như một con ma-cà-rồng hút đi sinh lực của một người và luôn tìm cách để tiếp cận (người đó). Tâm giống như một tên trộm, đánh cắp đi những tâm tính tốt của một người.”

84. Pháp hành Tứ Niệm Xứ liên quan đến các nhân tố của sự hiện hữu

Kinh Arya-Ratnacuda Sutra (Bảo Kế Kinh) có dạy rằng: “Một vị Bồ-tát quán xét các nhân tố của sự hiện hữu trong các nhân tố của sự hiện hữu. Vị ấy quán xét như sau: Chỉ có các nhân tố của sự hiện hữu sinh khởi trong tiến trình của sự sinh khởi; chỉ có các nhân tố của sự hiện hữu là ngừng lại trong tiến trình của sự ngừng lại. Nhưng ở bên trong chúng (các nhân tố của sự hiện hữu này) lại không có bất kỳ một bản ngã nào, không có bất kỳ một chúng sinh thường còn, không có linh hồn, sinh vật, hay một con người nào, không có một nguyên tắc bất tử nào của con người (purusa), không có một cá tính, không có một con người nào (dù nó thể hiện ra ngoài như một thực thể giống hệt) sinh ra, già đi, chết và tái sinh. Bản chất của các nhân tố của sự hiện hữu này là chúng xuất hiện nếu được tạo ra (bởi các nhân và duyên thích hợp); nếu chúng không được tạo ra (bởi nhân và duyên) như vậy thì chúng sẽ không xuất hiện. Chúng được tạo ra theo cách nào thì chúng sẽ xuất hiện theo đúng cách đó: Là có ích, là vô ích hoặc không bị xáo trộn (các tiến trình của tâm). Tuy nhiên, không có ‘người sản xuất’ (hay người tạo ra), cũng như không có bất kỳ nhân tố của sự tồn tại nào được tạo ra mà không có các nhân (thích hợp).”

Trong bản kinh này cũng có dạy rằng: “Ngay cả khi một vị Bồ-tát quán xét các nhân tố của sự hiện hữu mà không có một cảm nhận sâu sắc về chúng, thì vị ấy cũng không từ bỏ nhớ tưởng về một sự giác ngộ thông suốt.”

Lối vào đời sống giác ngộ (trích dẫn từ Bồ Tát Hạnh – Bodhicaryàvatàra)

85. Người muốn tu tập, cần cẩn thận giữ gìn tâm của mình

Người muốn tu tập, cần cẩn thận canh giữ tâm của mình; vị ấy không thể tu tập, nếu cái tâm hay thay đổi (của vị ấy) không được canh giữ. (V, 1)

Những con voi chưa được thuần hóa trong thời kỳ động dục không gây ra nhiều tác hại bằng những tác hại được tạo ra bởi một tâm trí không tiết chế (và từng trải qua) ở trong địa ngục Avici (tầng thấp nhất của địa ngục) và các cảnh giới đau khổ khác. (V, 2)

Nhưng nếu cái tâm đó, con voi ngỗ ngược, đã hoàn toàn bị tiết chế bởi sợi dây thừng của chánh niệm, thì mọi nguy hiểm đã chấm dứt cũng như mọi điều tốt đẹp đã đến. (V, 3)

Người đi tìm Chân lý (Đức Phật) đã tuyên bố rằng tất cả mọi nguy hiểm và sợ hãi, và vô lượng đau khổ (của sự hiện hữu, tồn tại) chỉ sinh khởi từ tâm. (V, 6)

Tôi có thể mang những con cá và các sinh vật khác đi đâu để cứu chúng khỏi bị giết nhỉ? Tuy nhiên, nếu sự tiết chế trong suy nghĩ (để không sát sinh và không thực hiện các hành động bất thiện khác) đã được hình thành, thì nó sẽ tạo nên sự toàn hảo trong việc tuân giữ giới luật (śīla-pāramitā). (V, 11)

Tôi có thể giết bao nhiêu kẻ ác đây? Số lượng kẻ ác là vô hạn như bầu trời. Nhưng nếu các suy nghĩ sân hận đã bị làm cho tiêu tan, thì mọi kẻ thù cũng đều bị làm cho tiêu tan. (V, 12)

Làm sao có thể tìm đủ da để che phủ toàn bộ trái đất này? Tuy nhiên, chỉ cần lượng da của một đôi dép cũng đã che phủ được cả trái đất. (V, 13)

(Cũng tương tự như vậy:) Không thể canh chừng mọi thứ xảy ra ở bên ngoài được. Nhưng nếu canh giữ được tâm trí của chính mình, thì tôi nào cần sự bảo vệ nào khác nữa? (V, 14)

Vô ích làm sao cho những ai đang lang thang trong các cảnh giới, muốn diệt khổ và đạt đến hạnh phúc nhưng lại không phát triển cái tâm ẩn giấu này — là bản chất của Pháp. (V, 17)

Vì vậy, tôi cần đảm bảo rằng tâm tôi trở nên vững chắc và được canh giữ cẩn thận. Nếu lơ là trong việc canh giữ cái tâm này, thì tất cả những việc tuân giữ khác phỏng có ích lợi gì cho tôi? (V, 18)

Như một người bị thương sẽ cẩn thận bảo vệ vết thương của mình giữa một đám đông bị kích động, cũng như thế, giữa những con người bất thiện, phải luôn bảo vệ tâm mình, giống như một vết thương ở trong tâm. (V, 19)

Chắp tay, tôi cung kính đảnh lễ những ai sẵn lòng canh giữ tâm mình. Nguyện cho các vị ấy, cùng với tất cả sức mạnh của mình, duy trì chánh niệm và tỉnh giác! (V, 23)

Như một người đàn ông yếu ớt do bởi bệnh tật, không thích hợp cho bất kỳ công việc nào, tâm trí cũng sẽ không hiệu quả trong bất kỳ hoạt động nào nếu hai phẩm tính đó (chánh niệm và tỉnh giác) yếu kém. (V, 24)

Tâm không tỉnh giác giống như cái bình thủng nhiều lỗ; không thể giữ lại được trong trí nhớ những gì đã học, đã suy nghĩ hay nghiền ngẫm. (V, 25)

Nhiều người có học thức, cũng như có niềm tin và tinh tấn, nhưng lại bị nhiễm ô bởi các ác pháp, là do lỗi thiếu quán niệm. (V, 26)

Những ai bị tên trộm “thiếu quán niệm” cướp đi chánh niệm, sẽ có một số phận bất hạnh, ngay cả khi họ đã tích lũy nhiều công đức. (V, 27)

Vì vậy, đừng bao giờ cho phép chánh niệm đi ra khỏi cánh cửa của tâm; và nếu chánh niệm đã rời đi, thì nó nên được phục hồi lại ở ngay tại đó, luôn khắc ghi những khốn khổ trong các cảnh giới địa ngục. (V, 29)

Nếu chánh niệm đứng canh giữ ở cánh cửa của tâm, thì tỉnh giác cũng sẽ tham gia, sẽ đến cùng và sẽ không bao giờ rời đi. (V, 33)

“Tư thế cơ thể của tôi hẳn là như thế này, như thế kia”; như vậy, khi đã quyết định làm một điều gì đó rồi thì thỉnh thoảng vị ấy nên xác định vị trí, tư thế thân của mình. (V. 39)

Sau khi đã cân nhắc và đã bắt đầu thực hiện một việc nào đó, vị ấy trước hết cần hoàn thành việc đã chọn với sự nhất tâm và không nghĩ đến bất cứ điều gì khác (cho đến khi việc đó được hoàn thành). (V, 43)

Bằng cách đó, mọi thứ sẽ được thực hiện tốt; nhưng trong những trường hợp ngược lại thì cả hai (hoạt động) sẽ trở nên vô ích, và phiền não do thiếu tỉnh giác sẽ gia tăng. (V, 44)

Muốn cử động hay nói năng, trước tiên vị ấy cần suy xét trong tâm, rồi hành động với sự khéo léo và nghị lực. (V, 47)

Nhưng khi nhận biết rằng tâm trí bị lung lay bởi một sự hấp dẫn hay ghê tởm nào đó, vị ấy không nên hành động hay nói năng, mà hãy giống như một khúc gỗ. (V, 48)

Tương tự như vậy, nếu (nhận biết rằng) tâm (mình đang) tự phụ, nhạo báng, kiêu ngạo, mỉa mai, không thành thật, dối trá, có khuynh hướng tự khen mình, đổ lỗi, coi thường hoặc lăng mạ người khác, hoặc thích gây gổ, thì vị ấy cần (tĩnh lặng) giống như một khúc gỗ. (V, 49-50)

Vị ấy nên nghĩ rằng: ‘Tâm ta hằng mong lợi lộc, danh vọng và tiếng tăm, được nhiều người kính lễ, cho nên ta sẽ (tĩnh lặng) như khúc gỗ.’ (V, 51)

Nếu vị ấy nhận thấy rằng tâm trí bị ô nhiễm bởi những đam mê hoặc ý định theo đuổi những mục tiêu vô ích, thì như một người dũng cảm, vị ấy cần kiềm chế nó một cách mạnh mẽ bằng các biện pháp đối phó thích hợp — và cần phải luôn luôn làm điều này. (V, 54)

Với sự cung kính, tôi sẽ học (Giáo pháp): Nếu chỉ thuần tuý nghiên cứu chữ nghĩa thì phỏng có ích gì? Liệu rằng người bệnh có thể tự chữa bệnh cho mình bằng cách chỉ đơn thuần đọc đơn thuốc không? (V, 109)

Chỉ sau khi xem xét mọi hoàn cảnh và khả năng của mình, vị ấy mới bắt đầu (hoặc không bắt đầu) một công việc nào đó; bởi vì, thà không làm còn hơn là đã bắt đầu và rồi lại bỏ cuộc.

Ở một kiếp sống khác, thói quen (không tốt) đó có thể tiếp tục xảy ra; và do bởi (hành động) lỗi lầm đó mà đau khổ sẽ gia tăng. Hơn nữa, việc (mà vị ấy đã bắt đầu) vẫn chưa được hoàn thành, trong khi thời gian để khởi đầu công việc thì đã bị đánh mất. (VII, 47-48)

Hãy coi chừng những cú đánh nhắm vào bản thân mình do bởi các đam mê, và hãy đáp trả lại những cú đánh đó một cách mạnh mẽ như thể đang đấu kiếm với một kẻ thù thiện nghệ.

Trong một trận chiến như vậy, nếu làm rơi thanh kiếm, vị ấy sẽ vô cùng sợ hãi và nhanh chóng nhặt lại (thanh kiếm). Tương tự như vậy, nếu thanh kiếm chánh niệm đã bị đánh rơi, vị ấy cần nhặt nó lên, tự nhắc nhớ mình về những cảnh giới của khổ đau. (VII, 67-68)

Như người khiêng một cái bình đựng đầy dầu và đang bị nhiều người cầm gươm đuổi theo sau, bởi vì sợ bị giết chết, vị ấy sẽ đề phòng vấp ngã, vị ấy cần hành động cẩn thận, gìn giữ. (VII, 70)

Vị ấy cần tìm bạn đồng hành hoặc làm công việc của mình với quan điểm như thế này: “Thói quen của chánh niệm sẽ xảy ra như thế nào trong những tình huống này?” (VII, 73)

Luôn nhắc nhớ lời dạy (cuối cùng của Đức Phật) về chánh niệm, hãy khiến bản thân mình phản ứng nhanh đến mức vị ấy luôn luôn sẵn sàng trước khi tình huống phát sinh. (VII, 74)

Do đó, có đủ các phương cách trong thế giới này! Luôn nhắc nhớ lời dạy (cuối cùng của Bậc Đạo sư) về chánh niệm, vị ấy sẽ theo bậc trí tuệ và đoạn trừ mọi loại hôn trầm.

Do đó, để đánh bại mọi chướng ngại, vị ấy sẽ thực hành định tâm, kéo tâm ra khỏi những con đường sai lầm và liên tục buộc tâm mình vào đối tượng của chính nó. (VIII, 185-186)

Nếu có người như tôi, chưa được tự do thoát khỏi phiền não, mà lại đề nghị giải thoát chúng sinh khắp mười phương (không gian) khỏi mọi nhiễm ô, thì đó chẳng khác nào lời nói của người điên, không biết giới hạn của mình. Do đó, không ngoảnh lại, tôi sẽ luôn chiến đấu với phiền não. (IV, 41-42)

Vì vậy, với quyết tâm, tôi sẽ nỗ lực tuân theo Giáo pháp như đã được tuyên bố. Làm cách nào một người có thể phục hồi sức khỏe nhờ vào một loại thuốc hữu hiệu, nếu vị ấy cứ phớt lờ lời khuyên của thầy thuốc? (IV, 48)

Phần trước | Mục lục | Phần kế

Viet Hung | A Happiness pursuer | Author of The Happiness Journal, Tản mạn về Hạnh phúc and NGẪM CAFÉ
Sách tôi dịch: Thiền cho người mới bắt đầu, Nổi loạn và tự do, Bài chú giải Kinh Mangala Sutta, Sức mạnh của sự hoài nghi và thiền chánh niệm (Vipassana), Những nguyên lý để sống hạnh phúc, Chúng ta đang sống vì điều gì?, Sự cho đi và Tình thương yêu, “Lấy tâm mình làm bạn của chính mình”
Get your source of inspiration and motivation toward reaching happiness here: https://www.viethungnguyen.com

2 thoughts on “[TTTPG] III.5. Trích dẫn từ tác phẩm của Ngài Tịch Thiên (Sāntideva)”

Gửi phản hồi