Phần trước | Mục lục | Phần kế
Nghe trên Youtube
Nghe trên Soundcloud
Nghe trên Spotify
Mahā-Satipaṭṭhānā Sutta
Bài kinh thứ 22 trong Trường Bộ Kinh (Nīgha-Nīkāya) và các chú giải
Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammā-Sambuddhassa
Ghi chú từ người dịch: Nội dung được tham khảo từ bản dịch của HT Thích Minh Châu, được đăng tại: https://www.budsas.org/uni/u-kinh-truongbo/truong22.htm, và được hiệu đính lại cho từ ngữ trở nên đơn giản và gần gũi hơn. Độc giả nên tham khảo bản dịch gốc ở trong đường dẫn trên cũng như bản tiếng Anh trong sách gốc và đặc biệt là bản gốc tiếng Pāli.
Như vậy, tôi nghe. Một thời, Đức Thế Tôn trú tại thành phố Kammāssadhamma của xứ Kuru. Rồi Đức Thế Tôn gọi các vị Tỳ-khưu: “Này các Tỳ-khưu.” Các Tỳ-khưu trả lời Đức Thế Tôn: “Bạch Đức Thế Tôn.” Đức Thế Tôn dạy như sau:
Này các Tỳ-khưu, đây là con đường độc nhất, đưa đến thanh tịnh cho chúng sinh, vượt khỏi sầu, ưu, đoạn diệt đau khổ, đạt đến chánh đạo, chứng ngộ Niết-bàn, đó là bốn niệm xứ.
Thế nào là bốn? Này các Tỳ-khưu, ở đây vị Tỳ-khưu sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham lam và đau khổ ở đời; sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham lam và đau khổ ở đời; sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham lam và đau khổ ở đời; sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham lam và đau khổ ở đời.
I. Quán thân
1. Chánh niệm về hơi thở
Này các Tỳ-khưu, thế nào là vị Tỳ-khưu sống quán thân trên thân?
Này các Tỳ-khưu, ở đây vị Tỳ-khưu đi đến một khu rừng, đi đến một gốc cây, hay đi đến một ngôi nhà trống, ngồi bắt chéo chân, giữ cho lưng thẳng và chăm chú chánh niệm ở trước mặt.
Tỉnh giác, vị ấy hít vào; tỉnh giác, vị ấy thở ra. Hít vào một hơi thở dài, vị ấy tuệ tri rằng: “Tôi hít vào dài”; hay thở ra dài, vị ấy tuệ tri rằng: “Tôi thở ra dài”; hay hít vào ngắn, vị ấy tuệ tri rằng: “Tôi hít vào ngắn”; hay thở ra ngắn, vị ấy tuệ tri rằng: “Tôi thở ra ngắn”; “Cảm nhận toàn toàn thân, tôi sẽ hít vào”, vị ấy tự huấn luyện mình như vậy; “Cảm nhận toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tự huấn luyện mình như vậy; “An tịnh thân hành, tôi sẽ hít vào”, vị ấy tự huấn luyện mình như vậy; “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tự huấn luyện mình như vậy.
Này các Tỳ-khưu, như một người thợ tiện thiện xảo hay học trò của vị ấy, khi quay dài, vị ấy tuệ tri rằng: “Tôi quay dài”; hay khi quay ngắn, vị ấy tuệ tri rằng: “Tôi quay ngắn.” Cũng y như vậy, này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu hít vào dài, vị ấy tuệ tri rằng: “Tôi hít vào dài”; hay thở ra dài, vị ấy tuệ tri rằng: “Tôi thở ra dài”; hay hít vào ngắn, vị ấy tuệ tri rằng: “Tôi hít vào ngắn”; hay thở ra ngắn, vị ấy tuệ tri rằng: “Tôi thở ra ngắn”; “Cảm nhận toàn thân, tôi sẽ hít vào”, vị ấy tự huấn luyện mình như vậy; “Cảm nhận toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tự huấn luyện mình như vậy; “An tịnh thân hành, tôi sẽ hít vào”, vị ấy tự huấn luyện mình như vậy; “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tự huấn luyện mình như vậy.
Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân (của mình); hoặc sống quán thân trên ngoại thân (nơi thân người khác); hoặc sống quán thân trên cả nội thân và ngoại thân. Vị ấy sống quán tính sinh khởi trên thân; hay sống quán tính diệt tận trên thân; hay sống quán cả tính sinh và diệt trên thân. “Có cái thân ở đây”, chánh niệm của vị ấy được thiết lập như vậy, hướng đến sự tỉnh giác và ghi nhận thuần tuý. Một cách độc lập, vị ấy chăm chú quán niệm, không dính mắc vào bất cứ một điều gì trên thế gian này.
Này các Tỳ-khưu, như vậy vị Tỳ-khưu sống quán thân trên thân.
2. Chánh niệm về các tư thế của thân
Lại nữa, này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu khi bước đi, vị ấy tuệ tri rằng: “Tôi đang đi”; hoặc khi đứng, vị ấy tuệ tri rằng: “Tôi đang đứng”; hoặc khi ngồi, vị ấy tuệ tri rằng: “Tôi đang ngồi”; hoặc khi nằm, vị ấy tuệ tri rằng: “Tôi đang nằm”. Hoặc với bất cứ tư thế nào của thân, vị ấy tuệ tri thân đang là như thế ấy.
Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân (của mình); hoặc sống quán thân trên ngoại thân (nơi thân người khác); hoặc sống quán thân trên cả nội thân và ngoại thân. Vị ấy sống quán tính sinh khởi trên thân; hay sống quán tính diệt tận trên thân; hay sống quán cả tính sinh và diệt trên thân. “Có cái thân ở đây”, chánh niệm của vị ấy được thiết lập như vậy, hướng đến sự tỉnh giác và ghi nhận thuần tuý. Một cách độc lập, vị ấy chăm chú quán niệm, không dính mắc vào bất cứ một điều gì trên thế gian này.
Này các Tỳ-khưu, như vậy vị Tỳ-khưu sống quán thân trên thân.
3. Chánh niệm với sự tỉnh giác
Lại nữa, này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu khi bước tới, bước lui, vị ấy biết rõ việc mình đang làm. Khi ngó tới, ngó lui, vị ấy biết rõ việc mình đang làm. Khi co tay, khi duỗi tay, vị ấy biết rõ việc mình đang làm. Khi mặc y, mang bát, vị ấy biết rõ việc mình đang làm. Khi ăn, uống, nhai, nếm, vị ấy biết rõ việc mình đang làm. Khi đại tiện, tiểu tiện, vị ấy biết rõ việc mình đang làm. Khi đi, đứng, ngồi, nằm, vị ấy biết rõ việc mình đang làm.
Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân (của mình); hoặc sống quán thân trên ngoại thân (nơi thân người khác); hoặc sống quán thân trên cả nội thân và ngoại thân. Vị ấy sống quán tính sinh khởi trên thân; hay sống quán tính diệt tận trên thân; hay sống quán cả tính sinh và diệt trên thân. “Có cái thân ở đây”, chánh niệm của vị ấy được thiết lập như vậy, hướng đến sự tỉnh giác và ghi nhận thuần tuý. Một cách độc lập, vị ấy chăm chú quán niệm, không dính mắc vào bất cứ một điều gì trên thế gian này.
Này các Tỳ-khưu, như vậy vị Tỳ-khưu sống quán thân trên thân.
4. Quán thể trược (quán niệm về sự nhờn gớm của cơ thể)
Lại nữa, này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu quán sát thân này, từ dưới bàn chân trở lên, từ trên đỉnh tóc trở xuống, được bao bọc bởi da và chứa đầy những thứ dơ bẩn, vị ấy tuệ tri rằng: “Có những thứ sau đây trong cái thân này: tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tuỷ, tim, gan, màng phổi, lá lách, phổi, ruột, màng treo ruột, dạ dày, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, dịch khớp xương, nước tiểu.”
Này các Tỳ-khưu, cũng như một cái túi có hai đầu đựng đầy các loại hạt như gạo, thóc, đậu xanh, đậu đũa, mè, lúa trấu đã xay rồi. Một người có mắt rõ, đổ các hạt ấy ra và xem xét thấy rằng: “Ðây là hạt gạo, đây là hạt lúa, đây là đậu xanh, đây là đậu đũa, đây là mè, đây là hạt lúa trấu đã xay rồi.” Cũng vậy, này các Tỳ-khưu, một vị Tỳ-khưu quán sát thân này từ dưới bàn chân trở lên, và từ trên đỉnh tóc trở xuống, được bao bọc bởi da và chứa đầy những thứ dơ bẩn: “Có những thứ sau đây trong cái thân này: tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tuỷ, thận, tim, gan, màng phổi, lá lách, phổi, ruột, màng treo ruột, dạ dày, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, dịch khớp xương, nước tiểu.”
Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân (của mình); hoặc sống quán thân trên ngoại thân (nơi thân người khác); hoặc sống quán thân trên cả nội thân và ngoại thân. Vị ấy sống quán tính sinh khởi trên thân; hay sống quán tính diệt tận trên thân; hay sống quán cả tính sinh và diệt trên thân. “Có cái thân ở đây”, chánh niệm của vị ấy được thiết lập như vậy, hướng đến sự tỉnh giác và ghi nhận thuần tuý. Một cách độc lập, vị ấy chăm chú quán niệm, không dính mắc vào bất cứ một điều gì trên thế gian này.
Này các Tỳ-khưu, như vậy vị Tỳ-khưu sống quán thân trên thân.
5. Quán niệm tứ đại (các yếu tố vật chất của thân)
Lại nữa, này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu quán sát thân này về cách nó được sắp đặt và bố trí liên quan đến các yếu tố vật chất chính của thân, rằng: “Trong thân này có yếu tố đất (địa đại), yếu tố nước (thuỷ đại), yếu tố lửa (hoả đại) và yếu tố gió (phong đại).”
Này các Tỳ-khưu, như một người đồ tể thiện xảo hay đệ tử của vị ấy, đã giết một con bò, ngồi cắt chia thành các phần nhỏ tại ngã tư đường. Cũng vậy, này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu quán sát thân này về cách mà nó được sắp đặt và bố trí liên quan đến các yếu tố vật chất chính của thân, rằng: “Trong thân này có yếu tố đất, yếu tố nước, yếu tố lửa và yếu tố gió.”
Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân (của mình); hoặc sống quán thân trên ngoại thân (nơi thân người khác); hoặc sống quán thân trên cả nội thân và ngoại thân. Vị ấy sống quán tính sinh khởi trên thân; hay sống quán tính diệt tận trên thân; hay sống quán cả tính sinh và diệt trên thân. “Có cái thân ở đây”, chánh niệm của vị ấy được thiết lập như vậy, hướng đến sự tỉnh giác và ghi nhận thuần tuý. Một cách độc lập, vị ấy chăm chú quán niệm, không dính mắc vào bất cứ một điều gì trên thế gian này.
Này các Tỳ-khưu, như vậy vị Tỳ-khưu sống quán thân trên thân.
6. Quán tử thi
1. Lại nữa, này các Tỳ-khưu, như thể khi vị Tỳ-khưu thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa một ngày, hai ngày, hay ba ngày, thi thể ấy trương phồng lên, xanh đen lại, nát thối ra, vị ấy quán thân mình như sau: “Thật vậy, cái thân này tính chất là như vậy, bản chất là như vậy, không thể vượt khỏi tính chất, bản chất ấy được.”
Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân (của mình); hoặc sống quán thân trên ngoại thân (nơi thân người khác); hoặc sống quán thân trên cả nội thân và ngoại thân. Vị ấy sống quán tính sinh khởi trên thân; hay sống quán tính diệt tận trên thân; hay sống quán cả tính sinh và diệt trên thân. “Có cái thân ở đây”, chánh niệm của vị ấy được thiết lập như vậy, hướng đến sự tỉnh giác và ghi nhận thuần tuý. Một cách độc lập, vị ấy chăm chú quán niệm, không dính mắc vào bất cứ một điều gì trên thế gian này.
Này các Tỳ-khưu, như vậy vị Tỳ-khưu sống quán thân trên thân.
2. Lại nữa, này các Tỳ-khưu, như thể khi vị Tỳ-khưu thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, bị các loài quạ ăn, hoặc bị các loài diều hâu ăn, hoặc bị các chim kền kền ăn, hoặc bị các loài chó ăn, hoặc bị các loài giả can ăn, hoặc bị các loài côn trùng khác nhau ăn, vị ấy quán thân mình như sau: “Thật vậy, cái thân này tính chất là như vậy, bản chất là như vậy, không thể vượt khỏi tính chất, bản chất ấy được.”
Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân (của mình); hoặc sống quán thân trên ngoại thân (nơi thân người khác); hoặc sống quán thân trên cả nội thân và ngoại thân. Vị ấy sống quán tính sinh khởi trên thân; hay sống quán tính diệt tận trên thân; hay sống quán cả tính sinh và diệt trên thân. “Có cái thân ở đây”, chánh niệm của vị ấy được thiết lập như vậy, hướng đến sự tỉnh giác và ghi nhận thuần tuý. Một cách độc lập, vị ấy chăm chú quán niệm, không dính mắc vào bất cứ một điều gì trên thế gian này.
Này các Tỳ-khưu, như vậy vị Tỳ-khưu sống quán thân trên thân.
3. Lại nữa, này các Tỳ-khưu, như thể khi vị Tỳ-khưu thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, chỉ còn bộ xương dính lại với nhau bởi gân cốt, cùng một ít thịt và máu dính lại; chỉ còn bộ xương dính lại với nhau bởi gân cốt, nhuốm máu, không còn thịt; chỉ còn bộ xương dính với nhau bởi gân cốt, không còn thịt và máu; chỉ còn có xương không dính lại với nhau, nằm rải rác khắp nơi ở chỗ này chỗ kia, ở đây là xương tay, ở đây là xương chân, ở đây là xương ống, ở đây là xương bắp vế, ở đây là xương mông, ở đây là xương sống, ở đây là xương đầu,… , vị ấy quán thân mình như sau: “Thật vậy, cái thân này tính chất là như vậy, bản chất là như vậy, không thể vượt khỏi tính chất, bản chất ấy được.”
Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân (của mình); hoặc sống quán thân trên ngoại thân (nơi thân người khác); hoặc sống quán thân trên cả nội thân và ngoại thân. Vị ấy sống quán tính sinh khởi trên thân; hay sống quán tính diệt tận trên thân; hay sống quán cả tính sinh và diệt trên thân. “Có cái thân ở đây”, chánh niệm của vị ấy được thiết lập như vậy, hướng đến sự tỉnh giác và ghi nhận thuần tuý. Một cách độc lập, vị ấy chăm chú quán niệm, không dính mắc vào bất cứ một điều gì trên thế gian này.
Này các Tỳ-khưu, như vậy vị Tỳ-khưu sống quán thân trên thân.
4. Lại nữa, này các Tỳ-khưu, như thể khi vị Tỳ-khưu thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, chỉ còn toàn xương trắng màu vỏ ốc… ; chỉ còn một đống xương lâu hơn một năm, sắp thành đống… ; chỉ còn là xương thối đã trở thành bột, vị ấy quán thân mình như sau: “Thật vậy, cái thân này tính chất là như vậy, bản chất là như vậy, không thể vượt khỏi tính chất, bản chất ấy được.”
Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân (của mình); hoặc sống quán thân trên ngoại thân (nơi thân người khác); hoặc sống quán thân trên cả nội thân và ngoại thân. Vị ấy sống quán tính sinh khởi trên thân; hay sống quán tính diệt tận trên thân; hay sống quán cả tính sinh và diệt trên thân. “Có cái thân ở đây”, chánh niệm của vị ấy được thiết lập như vậy, hướng đến sự tỉnh giác và ghi nhận thuần tuý. Một cách độc lập, vị ấy chăm chú quán niệm, không dính mắc vào bất cứ một điều gì trên thế gian này.
Này các Tỳ-khưu, như vậy vị Tỳ-khưu sống quán thân trên thân.
II. Quán thọ
Và này các Tỳ-khưu, như thế nào vị Tỳ-khưu sống quán thọ trên các thọ?
Này các Tỳ-khưu, ở nơi đây vị Tỳ-khưu khi cảm giác lạc thọ, biết rằng: “Tôi cảm giác lạc thọ”; hoặc khi cảm giác khổ thọ, biết rằng: “Tôi cảm giác khổ thọ”; hoặc khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ, biết rằng: “Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ”. Hoặc khi cảm giác lạc thọ thuộc vật chất biết rằng: “Tôi cảm giác lạc thọ thuộc vật chất”. Hoặc khi cảm giác lạc thọ không thuộc vật chất, biết rằng: “Tôi cảm giác lạc thọ không thuộc vật chất”. Hoặc khi cảm giác khổ thọ thuộc vật chất, biết rằng: “Tôi cảm giác khổ thọ thuộc vật chất”. Hoặc khi cảm giác khổ thọ không thuộc vật chất, biết rằng: “Tôi cảm giác khổ thọ không thuộc vật chất”. Hoặc khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ thuộc vật chất, biết rằng: “Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ thuộc vật chất”. Hoặc khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ không thuộc vật chất, biết rằng: “Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ không thuộc vật chất”.
Như vậy, vị ấy sống quán thọ trên các nội thọ (ở bên trong mình); hoặc sống quán thọ trên các ngoại thọ (ở bên ngoài); hoặc sống quán thọ trên cả các nội thọ và ngoại thọ. Vị ấy sống quán tính sinh khởi trên các thọ; hoặc sống quán tính diệt tận trên các thọ; hoặc sống quán cả tính sanh và diệt trên các thọ. “Có thọ ở đây”, chánh niệm của vị ấy được thiết lập như vậy, hướng đến sự tỉnh giác và ghi nhận thuần tuý. Một cách độc lập, vị ấy chăm chú quán niệm, không dính mắc vào bất cứ một điều gì trên thế gian này.
Này các Tỳ-khưu, như vậy vị Tỳ-khưu sống quán thọ trên các thọ.
III. Quán tâm
Và này các Tỳ-khưu, như thế nào là vị Tỳ-khưu sống quán tâm trên tâm?
Này các Tỳ-khưu, ở đây vị Tỳ-khưu với tâm có tham, biết rằng “tâm có tham”; hoặc với tâm không tham, biết rằng “tâm không tham”; hoặc với tâm có sân, biết rằng “tâm có sân”; hoặc với tâm không sân, biết rằng “tâm không sân”; hoặc với tâm có si, biết rằng “tâm có si”; hoặc với tâm không si, biết rằng “tâm không si”; hoặc với tâm thâu nhiếp, biết rằng “tâm được thâu nhiếp”; hoặc với tâm tán loạn, biết rằng “tâm bị tán loạn”; hoặc với tâm quảng đại, biết rằng “tâm được quảng đại”; hoặc với tâm không quảng đại, biết rằng “tâm không được quảng đại”; hoặc với tâm hữu hạn, biết rằng “tâm hữu hạn”; hoặc với tâm vô thượng, biết rằng “tâm vô thượng”; hoặc với tâm có định, biết rằng “tâm có định”; hoặc với tâm không định, biết rằng “tâm không định”; hoặc với tâm giải thoát, biết rằng “tâm có giải thoát”; hoặc với tâm không giải thoát, biết rằng “tâm không giải thoát”.
Như vậy, vị ấy sống quán tâm trên tâm nội tâm (ở bên trong mình); hoặc sống quán tâm trên ngoại tâm (ở bên ngoài); hoặc sống quán tâm trên cả nội tâm và ngoại tâm. Vị ấy sống quán tính sinh khởi trên tâm; hoặc sống quán tính diệt tận trên tâm; hoặc sống quán cả tính sinh và diệt trên tâm. “Có tâm này ở đây”, chánh niệm của vị ấy được thiết lập như vậy, hướng đến sự tỉnh giác và ghi nhận thuần tuý. Một cách độc lập, vị ấy chăm chú quán niệm, không dính mắc vào bất cứ một điều gì trên thế gian này.
Này các Tỳ-khưu, như vậy vị Tỳ-khưu sống quán tâm trên tâm.
IV. Quán Pháp
Và này các Tỳ-khưu, như thế nào là vị Tỳ-khưu sống quán pháp trên các pháp?
1. Năm triền cái
Này các Tỳ-khưu, ở đây, vị Tỳ-khưu sống quán pháp trên các pháp đối với năm triền cái. Và này các Tỳ-khưu, thế nào là vị Tỳ-khưu sống quán pháp trên các pháp đối với năm triền cái?
Này các Tỳ-khưu, ở đây, khi nội tâm có tham dục, vị ấy tuệ tri rằng: “Nội tâm tôi có tham dục”; hoặc nội tâm không có tham dục, vị ấy tuệ tri rằng: “Nội tâm tôi không có tham dục.” Và với tham dục chưa sinh nay sinh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy. Và với tham dục đã sinh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy. Và với tham dục đã được đoạn diệt, tương lai không sinh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.
Hoặc khi nội tâm có sân hận, vị ấy tuệ tri rằng: “Nội tâm tôi có sân hận”; hoặc nội tâm không có sân hận, vị ấy tuệ tri rằng: “Nội tâm tôi không có sân hận.” Và với sân hận chưa sinh nay sinh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy. Và với sân hận đã sinh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy. Và với sân hận đã được đoạn diệt, tương lai không sinh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.
Hoặc khi nội tâm có hôn trầm thụy miên, vị ấy tuệ tri rằng: “Nội tâm tôi có hôn trầm thụy miên”; hoặc nội tâm không có hôn trầm thụy miên, vị ấy tuệ tri rằng: “Nội tâm tôi không có hôn trầm thụy miên”. Và với hôn trầm thụy miên chưa sinh nay sinh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy. Và với hôn trầm thụy miên đã sinh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy. Và với hôn trầm thụy miên đã được đoạn diệt, tương lai không sinh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.
Hoặc khi nội tâm có trạo hối, vị ấy tuệ tri rằng: “Nội tâm tôi có trạo hối”; hoặc nội tâm không có trạo hối, vị tuệ tri rằng: “Nội tâm tôi không có trạo hối”. Và với trạo hối chưa sinh nay sinh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy. Và với trạo hối đã sinh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy. Và với trạo hối đã được đoạn diệt, tương lai không sinh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.
Hoặc khi nội tâm có nghi, vị ấy tuệ tri rằng: “Nội tâm tôi có nghi”; hoặc nội tâm không có nghi, vị ấy tuệ tri rằng: “Nội tâm tôi không có nghi.” Và với nghi chưa sinh nay sinh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy. Và với nghi đã sinh, nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy, và với nghi đã được đoạn diệt, tương lai không sinh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.
Như vậy, vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hoặc sống quán pháp trên các ngoại pháp; hoặc sống quán pháp trên cả hai nội pháp và ngoại pháp. Vị ấy sống quán tính sinh khởi trên các pháp; hoặc sống quán tính diệt tận trên các pháp; hoặc sống quán cả tính sinh và diệt trên các pháp. “Có những pháp ở đây”, chánh niệm của vị ấy được thiết lập như vậy, hướng đến sự tỉnh giác và ghi nhận thuần tuý. Một cách độc lập, vị ấy chăm chú quán niệm, không dính mắc vào bất cứ một điều gì trên thế gian này.
Này các Tỳ-khưu, như vậy, vị Tỳ-khưu sống quán pháp trên các pháp đối với năm triền cái.
2. Năm Thủ uẩn
Lại nữa, này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu sống quán pháp trên các pháp đối với Năm Thủ uẩn. Này các Tỳ-khưu, thế nào là vị Tỳ-khưu sống quán pháp trên các pháp đối với Năm Thủ uẩn?
Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu nghiền ngẫm rằng: “Ðây là sắc, đây là sắc sinh, đây là sắc diệt. Ðây là thọ, đây là thọ sinh, đây là thọ diệt. Ðây là tưởng, đây là tưởng sinh, đây là tưởng diệt. Ðây là hành, đây là hành sinh, đây là hành diệt. Ðây là thức, đây là thức sinh, đây là thức diệt”
Như vậy, vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hoặc sống quán pháp trên các ngoại pháp; hoặc sống quán pháp trên cả hai nội pháp và ngoại pháp. Vị ấy sống quán tính sinh khởi trên các pháp; hoặc sống quán tính diệt tận trên các pháp; hoặc sống quán cả tính sinh và diệt trên các pháp. “Có những pháp ở đây”, chánh niệm của vị ấy được thiết lập như vậy, hướng đến sự tỉnh giác và ghi nhận thuần tuý. Một cách độc lập, vị ấy chăm chú quán niệm, không dính mắc vào bất cứ một điều gì trên thế gian này.
Này các Tỳ-khưu, như vậy, vị Tỳ-khưu sống quán pháp trên các pháp đối với Năm Thủ uẩn.
3. Sáu Nội Ngoại xứ
Lại nữa, này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu sống quán pháp trên các pháp đối với Sáu Nội Ngoại xứ. Này các Tỳ-khưu, thế nào là vị Tỳ-khưu sống quán pháp trên các pháp đối với Sáu Nội Ngoại xứ?
Này các Tỳ-khưu, ở đây, vị Tỳ-khưu tuệ tri con mắt và tuệ tri các sắc, do duyên hai pháp này, kiết sử sinh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử chưa sinh nay sinh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử đã sinh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử đã được đoạn diệt, tương lai không sinh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy… và tuệ tri tai và tuệ tri các tiếng… và tuệ tri mũi và tuệ tri các hương… và tuệ tri lưỡi và tuệ tri các vị… và tuệ tri thân và tuệ tri các xúc… và tuệ tri ý và tuệ tri các pháp; do duyên hai pháp này, kiết sử sinh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử chưa sinh nay sinh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử đã sinh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử đã được đoạn diệt, tương lai không sinh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.
Như vậy, vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hoặc sống quán pháp trên các ngoại pháp; hoặc sống quán pháp trên cả hai nội pháp và ngoại pháp. Vị ấy sống quán tính sinh khởi trên các pháp; hoặc sống quán tính diệt tận trên các pháp; hoặc sống quán cả tính sinh và diệt trên các pháp. “Có những pháp ở đây”, chánh niệm của vị ấy được thiết lập như vậy, hướng đến sự tỉnh giác và ghi nhận thuần tuý. Một cách độc lập, vị ấy chăm chú quán niệm, không dính mắc vào bất cứ một điều gì trên thế gian này.
Này các Tỳ-khưu, như vậy, vị Tỳ-khưu sống quán pháp trên các pháp đối với Sáu Nội Ngoại xứ.
4. Bảy Giác chi
Lại nữa, này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu sống quán pháp trên các pháp đối với Bảy Giác chi. Này các Tỳ-khưu, thế nào là vị Tỳ-khưu sống quán pháp trên các pháp đối với Bảy Giác chi?
Này các Tỳ-khưu, ở đây, khi nội tâm có Niệm Giác chi, vị ấy tuệ tri rằng: “Nội tâm tôi có Niệm Giác chi”, hoặc nội tâm không có Niệm Giác chi, vị ấy tuệ tri rằng: “Nội tâm tôi không có Niệm Giác chi”; và với Niệm Giác chi chưa sinh nay sinh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy, và với Niệm Giác chi đã sinh, nay được tu tập viên thành, vị ấy tuệ tri như vậy.
Hay khi nội tâm có Trạch pháp Giác chi … có Tinh tấn Giác chi … có Hỷ Giác chi … có Khinh an Giác chi … có Định Giác chi … có Xả Giác chi, vị ấy tuệ tri rằng: “Nội tâm tôi có Xả Giác chi”; hoặc nội tâm không có Xả Giác chi, vị ấy tuệ tri rằng: “Nội tâm tôi không có Xả Giác chi.” Và với Xả Giác chi chưa sinh nay sinh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với Xả Giác chi đã sinh nay được tu tập viên thành, vị ấy tuệ tri như vậy.
Như vậy, vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hoặc sống quán pháp trên các ngoại pháp; hoặc sống quán pháp trên cả hai nội pháp và ngoại pháp. Vị ấy sống quán tính sinh khởi trên các pháp; hoặc sống quán tính diệt tận trên các pháp; hoặc sống quán cả tính sinh và diệt trên các pháp. “Có những pháp ở đây”, chánh niệm của vị ấy được thiết lập như vậy, hướng đến sự tỉnh giác và ghi nhận thuần tuý. Một cách độc lập, vị ấy chăm chú quán niệm, không dính mắc vào bất cứ một điều gì trên thế gian này.
Này các Tỳ-khưu, như vậy, vị Tỳ-khưu sống quán pháp trên các pháp đối với Bảy Giác chi.
5. Bốn sự thật cao thượng
Lại nữa, này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu sống quán pháp trên các pháp đối với bốn sự thật cao thượng (Tứ Diệu Đế). Này các Tỳ-khưu, thế nào là vị Tỳ-khưu sống quán pháp trên các pháp đối với bốn sự thật cao thượng?
Này các Tỳ-khưu, ở đây, vị Tỳ-khưu như thật tuệ tri rằng: “Ðây là khổ”; như thật tuệ tri rằng: “Ðây là nguồn gốc của khổ”; như thật tuệ tri rằng: “Ðây là sự đoạn diệt của khổ”; như thật tuệ tri rằng: “Ðây là con đường đưa đến sự đoạn diệt của khổ.”
Và này các Tỳ-khưu, thế nào là sự thật về khổ (Khổ Thánh đế)? Sinh là khổ, già là khổ, chết là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ, cầu không được là khổ, tóm lại Năm Thủ uẩn là khổ.
Này các Tỳ-khưu thế nào là sinh? Mỗi một hạng chúng sinh trong từng giới loại, sự xuất sản, xuất sinh, xuất thành, tái sinh của họ, sự xuất hiện các uẩn, sự hoạch đắc các căn, này các Tỳ-khưu, như vậy gọi là sinh.
Này các Tỳ-khưu, thế nào là già? Mỗi một hạng chúng sinh trong từng giới loại, sự niên lão, sự hủy hoại, trạng thái rụng răng, trạng thái tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ rút ngắn, các căn hủy hoại, này các Tỳ-khưu, như vậy gọi là già.
Này các Tỳ-khưu, thế nào là chết? Mỗi một hạng chúng sanh trong từng giới loại, sự tạ thế, sự từ trần, thân hoại, sự diệt vong, sự chết, sự tử vong, thời đã đến, các uẩn đã tận diệt, sự vất bỏ tử thi, này các Tỳ-khưu, như vậy gọi là chết.
Này các Tỳ-khưu, thế nào gọi là sầu? Này các Tỳ-khưu, với những ai gặp phải tai nạn này hay tai nạn khác; với những ai cảm thọ sự đau khổ này hay sự đau khổ khác, sự sầu, sự sầu lo, sự sầu muộn, nội sầu, mọi khổ sầu của người ấy, này các Tỳ-khưu, như vậy gọi là sầu.
Này các Tỳ-khưu, thế nào là bi? Này các Tỳ-khưu, với những ai gặp phải tai nạn này hay tai nạn khác; với những ai cảm thọ sự đau khổ này hay sự đau khổ khác, sự bi ai, sự bi thảm, sự than van, sự than khóc, sự bi thán, sự bi thống của người ấy, này các Tỳ-khưu, như vậy gọi là bi.
Này các Tỳ-khưu, thế nào là khổ? Này các Tỳ-khưu, sự đau khổ về thân, sự không sảng khoái về thân, sự đau khổ do thân cảm thọ, sự không sảng khoái do thân cảm thọ, này các Tỳ-khưu, như vậy gọi là khổ.
Này các Tỳ-khưu, thế nào là ưu? Này các Tỳ-khưu, sự đau khổ về tâm, sự không sảng khoái về tâm, sự đau khổ do tâm cảm thọ, sự không sảng khoái do tâm cảm thọ, này các Tỳ-khưu, như vậy gọi là ưu.
Này các Tỳ-khưu, thế nào là não? Này các Tỳ-khưu, với những ai gặp tai nạn này hay tai nạn khác; với những ai cảm thọ sự đau khổ này hay sự đau khổ khác, sự ảo não, sự bi não, sự thất vọng, sự tuyệt vọng của người ấy, này các Tỳ-khưu, như vậy gọi là não.
Này các Tỳ-khưu, thế nào là cầu không được là khổ? Này các Tỳ-khưu, chúng sinh bị sinh chi phối, khởi sự mong cầu: “Mong rằng ta khỏi bị sinh chi phối, mong rằng ta khỏi phải đi thác sinh”. Lời cầu mong ấy không được thành tựu. Như vậy gọi là cầu không được là khổ! Này các Tỳ-khưu, chúng sinh bị già chi phối… chúng sinh bị bệnh chi phối… chúng sinh bị chết chi phối.. chúng sinh bị sầu, bi, khổ, ưu, não chi phối, khởi sự mong cầu: “Mong rằng ta khỏi bị sầu, bi, khổ, ưu, não chi phối! Mong rằng ta khỏi phải chịu sầu, bi, khổ, ưu, não trong tương lai.” Lời mong cầu ấy không được thành tựu. Này các Tỳ-khưu, như vậy gọi là cầu không được là khổ.
Này các Tỳ-khưu, như thế nào là tóm lại, Năm Thủ uẩn là khổ? Như Sắc thủ uẩn, Thọ thủ uẩn, Tưởng thủ uẩn, Hành thủ uẩn, Thức thủ uẩn. Này các Tỳ-khưu, như vậy tóm lại Năm Thủ uẩn là khổ.
Này các Tỳ-khưu, đó là sự thật cao thượng về khổ.
Và này các Tỳ-khưu, sự thật cao thượng về nguồn gốc của khổ là gì? Sự tham ái đưa đến tái sinh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia. Như dục ái, hữu ái, vô hữu ái.
Này các Tỳ-khưu, sự tham ái này khi sinh khởi thì sinh khởi ở đâu, khi an trú thì an trú ở đâu? Bất cứ nơi nào trong thế giới này có những điều thích thú và dễ chịu thì ngay ở đó sẽ có tham ái sinh khởi và an trú. Vậy điều gì là thích thú và dễ chịu?
Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý là thích thú và dễ chịu. Sự tham ái này khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
Các sắc, các tiếng, các hương, các vị, các cảm xúc, các pháp là thích thú và dễ chịu. Sự tham ái này khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
Nhãn thức… nhĩ thức… tỷ thức… thiệt thức… thân thức… ý thức là thích thú và dễ chịu. Sự tham ái này khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
Nhãn xúc… nhĩ xúc… tỷ xúc… thiệt xúc… thân xúc… ý xúc là thích thú và dễ chịu. Sự tham ái này khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
Nhãn xúc sở sinh thọ… nhĩ xúc sở sinh thọ… tỷ xúc sở sinh thọ… thiệt xúc sở sinh thọ… thân xúc sở sinh thọ… ý xúc sở sinh thọ là thích thú và dễ chịu. Sự tham ái này khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
Sắc tưởng… thanh tưởng… hương tưởng… vị tưởng… xúc tưởng… pháp tưởng là thích thú và dễ chịu. Sự tham ái này khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
Sắc tư… thanh tư… hương tư… vị tư… xúc tư… pháp tư là thích thú và dễ chịu. Sự tham ái này khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
Sắc ái… thanh ái… hương ái… vị ái… xúc ái… pháp ái là thích thú và dễ chịu. Sự tham ái này khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
Sắc tầm … thanh tầm… hương tầm… vị tầm… xúc tầm… pháp tầm là thích thú và dễ chịu. Sự tham ái này khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
Sắc tứ… thanh tứ… hương tứ… vị tứ… xúc tứ… pháp tứ là thích thú và dễ chịu. Sự tham ái này khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
Này các Tỳ-khưu, đó là sự thật cao thượng về nguồn gốc của khổ (Khổ tập Thánh đế).
Này các Tỳ-khưu, và thế nào là sự thật cao thượng về sự đoạn diệt hoàn toàn khổ đau (Khổ diệt Thánh đế)? Sự diệt tận không còn luyến tiếc tham ái ấy, sự xả ly, sự khí xả, sự giải thoát, sự vô nhiễm (tham ái ấy).
Này các Tỳ-khưu, sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đâu, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đâu? Bất cứ nơi nào trong thế giới có những điều thích thú và dễ chịu, thì ngay ở đó các tham ái này có thể được xả ly, được diệt trừ ở đấy. Vậy điều gì là thích thú và dễ chịu?
Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý là thích thú và dễ chịu. Sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy.
Các sắc… các tiếng… các mùi hương… các vị… các xúc… các pháp là thích thú và dễ chịu. Sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy.
Nhãn thức… nhĩ thức… tỷ thức… thiệt thức… thân thức… ý thức là thích thú và dễ chịu. Sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy.
Nhãn xúc… nhĩ xúc… tỷ xúc… thiệt xúc… thân xúc… ý xúc là thích thú và dễ chịu. Sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy.
Nhãn xúc sở sinh thọ… nhĩ xúc sở sinh thọ… tỷ xúc sở sinh thọ… thiệt xúc sở sinh thọ… thân xúc sở sinh thọ… ý xúc sở sinh thọ là thích thú và dễ chịu. Sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy.
Sắc tưởng… thanh tưởng… hương tưởng… vị tưởng… xúc tưởng… pháp tưởng là thích thú và dễ chịu. Sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy.
Sắc tư… thanh tư… hương tư… vị tư… xúc tư… pháp tư là thích thú và dễ chịu. Sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy.
Sắc ái… thanh ái… hương ái… vị ái… xúc ái… pháp ái là thích thú và dễ chịu. Sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy.
Sắc tầm … thanh tầm… hương tầm… vị tầm… xúc tầm… pháp tầm là thích thú và dễ chịu. Sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy.
Sắc tứ… thanh tứ… hương tứ… vị tứ… xúc tứ… pháp tứ là thích thú và dễ chịu. Sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy.
Này các Tỳ-khưu, như vậy gọi là sự thật cao thượng của sự đoạn diệt hoàn toàn khổ đau.
Này các Tỳ-khưu, thế nào là sự thật cao thượng về con đường dẫn đến sự đoạn diệt hoàn toàn của khổ đau (Khổ diệt đạo Thánh đế)?
Ðó là con đường cao thượng có tám nhánh bao gồm: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, và Chánh định.
Này các Tỳ-khưu, thế nào là Chánh kiến? Tri kiến về khổ, tri kiến về nguồn gốc của khổ, tri kiến sự đoạn diệt của khổ và tri kiến về con đường dẫn đến sự đoạn diệt của khổ. Này các Tỳ-khưu, như vậy gọi là Chánh kiến.
Này các Tỳ-khưu, thế nào là Chánh tư duy? Tư duy về ly dục, tư duy về vô sân, tư duy về bất hại. Này các Tỳ-khưu, như vậy gọi là Chánh tư duy.
Này các Tỳ-khưu thế nào là Chánh ngữ? Tự chế không nói dối, tự chế không nói hai lưỡi, tự chế không nói lời ác, tự chế không nói lời phù phiếm. Này các Tỳ-khưu, như vậy gọi là Chánh ngữ.
Này các Tỳ-khưu, thế nào là Chánh nghiệp? Tự chế không sát sinh, tự chế không trộm cướp, tự chế không tà dâm. Này các Tỳ-khưu, như vậy gọi là Chánh nghiệp.
Này các Tỳ-khưu, thế nào là Chánh mạng? Này các Tỳ-khưu, ở đây vị Thánh đệ tử từ bỏ các sinh kế sai lầm (tà mạng), sinh sống bằng các sinh kế đúng đắn (chánh mạng). Này các Tỳ-khưu, như vậy gọi là Chánh mạng.
Này các Tỳ-khưu, thế nào là Chánh tinh tấn? Này các Tỳ-khưu, ở đây, đối với các ác pháp, các bất thiện pháp chưa sinh, vị Tỳ-khưu khởi lên ý muốn không cho sinh khởi; vị ấy nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Ðối với các ác pháp, các bất thiện pháp đã sinh, vị Tỳ-khưu khởi lên ý muốn trừ diệt, vị ấy nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Ðối với các thiện pháp chưa sinh, vị Tỳ-khưu khởi lên ý muốn khiến cho sinh khởi; vị ấy nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Ðối với các thiện pháp đã sinh, vị Tỳ-khưu khởi lên ý muốn khiến cho an trú, không cho băng hoại, khiến cho tăng trưởng, phát triển, viên mãn. Vị ấy nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Này các vị Tỳ-khưu, như vậy gọi là Chánh tinh tấn.
Này các Tỳ-khưu, thế nào là Chánh niệm? Này các Tỳ-khưu, ở đây, vị Tỳ-khưu sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời; trên các cảm thọ… trên các tâm… trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời. Này các Tỳ-khưu, như vậy gọi là Chánh niệm.
Này các Tỳ-khưu, thế nào là Chánh định? Này các Tỳ-khưu, ở đây, vị Tỳ-khưu ly dục, ly ác bất thiện pháp, chứng và trú trong tầng Thiền an chỉ định thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sinh, với tầm, với tứ. Vị Tỳ-khưu ấy diệt tầm, diệt tứ, chứng và trú trong tầng Thiền an chỉ định thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sinh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Vị Tỳ-khưu ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú trong tầng Thiền an chỉ định thứ ba. Vị Tỳ-khưu ấy xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú trong tầng Thiền an chỉ định thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này các Tỳ-khưu, như vậy gọi là Chánh định.
Này các Tỳ-khưu, đó là sự thật cao thượng về con đường dẫn đến sự đoạn diệt hoàn toàn của khổ đau.
Như vậy, vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hoặc sống quán pháp trên các ngoại pháp; hoặc sống quán pháp trên cả hai nội pháp và ngoại pháp. Vị ấy sống quán tính sinh khởi trên các pháp; hoặc sống quán tính diệt tận trên các pháp; hoặc sống quán cả tính sinh và diệt trên các pháp. “Có những pháp ở đây”, chánh niệm của vị ấy được thiết lập như vậy, hướng đến sự tỉnh giác và ghi nhận thuần tuý. Một cách độc lập, vị ấy chăm chú quán niệm, không dính mắc vào bất cứ một điều gì trên thế gian này.
Này các Tỳ-khưu, như vậy, vị Tỳ-khưu sống quán pháp trên các pháp đối với bốn sự thật cao thượng.
Này các Tỳ-khưu, một vị Tỳ-khưu nào tu tập Tứ Niệm Xứ này như vậy trong bảy năm, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại; hai là nếu còn hữu dư y, chứng quả Bất hoàn.
Này các Tỳ-khưu, không cần gì đến bảy năm, một vị Tỳ-khưu nào tu tập Tứ Niệm Xứ này như vậy trong sáu năm… trong năm năm… trong bốn năm… trong ba năm… trong hai năm… trong một năm, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại; hai là nếu còn hữu dư y, chứng quả Bất hoàn.
Này các Tỳ-khưu, không cần gì đến một năm, một vị Tỳ-khưu nào tu tập Tứ Niệm Xứ này như vậy trong bảy tháng, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn.
Này các Tỳ-khưu, không cần gì bảy tháng, một vị Tỳ-khưu nào tu tập Tứ Niệm Xứ này như vậy trong sáu tháng… trong năm tháng… trong bốn tháng… trong ba tháng… trong hai tháng… trong một tháng… trong nửa tháng… vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hai là nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn.
Này các Tỷ-kheo, không cần gì nửa tháng, một vị Tỳ-khưu nào tu tập Tứ Niệm Xứ này như vậy trong bảy ngày, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hai là nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn.
Này các Tỳ-khưu, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sinh, vượt khỏi sầu, ưu, đoạn diệt đau khổ, đạt đến chánh đạo, chứng ngộ Niết-bàn. Đó là Tứ Niệm Xứ.
Thế Tôn thuyết pháp đã xong. Các Tỳ-khưu ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Phần trước | Mục lục | Phần kế
Viet Hung | A Happiness pursuer | Author of The Happiness Journal, Tản mạn về Hạnh phúc and NGẪM CAFÉ
Sách tôi dịch: Thiền cho người mới bắt đầu, Nổi loạn và tự do, Bài chú giải Kinh Mangala Sutta, Sức mạnh của sự hoài nghi và thiền chánh niệm (Vipassana), Những nguyên lý để sống hạnh phúc, Chúng ta đang sống vì điều gì?, Sự cho đi và Tình thương yêu, “Lấy tâm mình làm bạn của chính mình”
Get your source of inspiration and motivation toward reaching happiness here: https://www.viethungnguyen.com
3 thoughts on “[TTTPG] II. Kinh Đại Niệm Xứ”