Phần trước | Mục lục | Phần kế
69. Con đường độc nhất (Chú giải Trung Bộ Kinh)
Pháp hành Tứ Niệm Xứ là “con đường độc nhất” bởi vì nó là con đường độc nhất (và thẳng tới mục tiêu – Niết-bàn), không phải là con đường rẽ ra làm nhiều nhánh. Đó là con đường phải do chính bản thân thực hiện một mình: Từ bỏ đám đông, sống ẩn cư và tách rời.
Ở đây, ẩn cư bao gồm hai mặt: Thân ẩn cư, nghĩa là sống không có bạn đồng hành, cách xa đám đông; và ẩn cư ở bên trong (tâm ẩn cư), đó là tự do thoát khỏi tham ái — được gọi “bạn đồng hành của con người”.
Hơn nữa, pháp hành Tứ Niệm Xứ là “con đường độc nhất” bởi vì nó là con đường của Bậc thánh, theo nghĩa là tốt nhất, độc nhất. Điều này là để nói đến Đức Thế Tôn, Đức Phật, con người cao thượng nhất trong tất cả chúng sinh. Mặc dù những người khác cũng đi trên con đường đó, nhưng đó là Con đường của Đức Phật, bởi vì Ngài đã khám phá ra nó, và nó chỉ tồn tại trong Giáo lý và Giới luật của Ngài, không ở nơi nào khác.
Pháp hành Tứ Niệm Xứ là Con đường độc nhất vì không có con đường nào khác dẫn đến Niết-bàn. Ở đây người ta có thể phản đối rằng: Liệu có phải chăng chỉ pháp hành Tứ Niệm Xứ là mang ý nghĩa cho toàn bộ từ ‘con đường’? Chẳng phải có nhiều yếu tố khác tạo thành con đường (tám nhánh – Bát Chánh Đạo)—chẳng hạn như chánh kiến, chánh tư duy,… hay sao? Điều đó đúng. Nhưng tất cả những yếu tố khác này đều được bao gồm trong pháp hành Tứ Niệm Xứ và không thể tồn tại nếu không có nó.
70. Phân loại (Chú giải Trung Bộ Kinh)
Vì sao Đức Thế Tôn dạy pháp hành với bốn niệm xứ, không hơn không kém? Ngài làm như vậy vì lợi ích của các loại tính cách khác nhau của các vị đệ tử có thể tiếp nhận pháp hành.
Đối với một người thiên về Tham ái (taṇhā-carita), nếu người đó kém thông minh, cách thanh tịnh hóa thích hợp là Niệm xứ liên quan đến Quán thân, vốn thô và rõ ràng; còn đối với loại tham ái của sự thông minh sắc sảo, thì sự Quán tưởng vi tế về cảm xúc (Quán thọ) sẽ là thích hợp hơn.
Đối với một người thiên về Lý thuyết (diṭṭhi-carita), nếu người ấy kém thông minh, thì cách thanh tịnh hóa thích hợp là Niệm Xứ liên quan đến Quán tâm (các trạng thái tâm) nhưng không quá đa dạng; còn đối với người thiên về lý thuyết nhưng lại thông minh sắc sảo, thì Quán Pháp với sự đa dạng của các đối tượng trong tâm là thích hợp.
Thân và các cảm giác là những nguyên nhân chính dẫn đến sự thích thú (đứng đầu trong các loại tham ái). Để khắc phục (khuynh hướng đặc biệt này) của tham ái, đối với người kém thông minh, sẽ dễ dàng hơn nếu họ quán sát sự bất tịnh (dơ bẩn) của cơ thể, là dạng thô hơn trong hai nguyên nhân gây ra tham ái ở trên. Còn đối với người thông minh nhạy bén, để khắc phục khuynh hướng này của tham ái, sẽ dễ dàng hơn nếu họ quán sát khổ đau trong các cảm thọ vi tế.
Tương tự như vậy, trạng thái của tâm (citta) và nội dung của tâm (dhammā) là những nguyên nhân chính dẫn đến các lý luận (trong tâm), và vì vậy chúng có thể trở thành cơ sở cho một niềm tin kiên định về sự thường còn và có một cái tôi (ngã). Để từ bỏ niềm tin vào sự thường còn đối với người thuộc loại lý luận nhưng kém thông minh, sẽ dễ dàng hơn khi quán sát tính vô thường của tâm (citta) với sự phân loại không quá đa dạng của chúng, ví dụ như là “tâm có dục vọng”, … Để từ bỏ niềm tin vào sự thường còn đối với người thuộc loại lý luận nhưng thông minh, nhạy bén, sẽ dễ dàng hơn khi quán sát sự vắng mặt của cái tôi — ngã (anattā) trong các tâm sở (cetasika) với sự phân loại rất chi tiết của chúng như tưởng, ấn tượng giác quan, …; hoặc như trong năm triền cái … (theo như kinh dạy).
Nhưng tâm và nội dung của tâm cũng có thể là cơ sở cho tham ái (không chỉ cho việc lý luận); trong khi đó thân và cảm giác cũng có thể là cơ sở để lý luận (chứ không chỉ riêng cho tham ái). Tuy nhiên, để chỉ ra điều nào trong số bốn nguyên nhân trên là điều kiện tốt hơn tương ứng cho tham muốn hay lý luận, thì sự khác biệt đã được làm rõ ở trên và cụm từ “nguyên nhân chính” được thêm vào để khẳng định những tuyên bố này.
71. Chế ngự tham lam và đau khổ … (Chú giải Trung Bộ Kinh)
“Chế ngự tham tham và đau khổ” nghĩa là dùng một trong hai cách: Chế ngự các phẩm tính xấu bằng các phẩm tính tốt đối nghịch với nó (tadaṅga-pahāna), hoặc là bằng cách chế ngự một cách tạm thời (vikkhambhana-pahāna) trong các tầng thiền định (jhāna).
Bởi vì thuật ngữ tham lam có nghĩa bao gồm dục vọng (kāmacchanda), và thuật ngữ đau khổ bao hàm sân hận (byāpāda), do đó, lời dạy này của kinh là đề cập đến sự từ bỏ năm triền cái (nīvaraṇa), bằng cách gọi ra hai triền cái kiên cố nhất trong năm triền cái.
Đặc biệt, mục đích của đoạn kinh này là truyền đạt những điều sau: Chế ngự tham lam có nghĩa là từ bỏ sự mãn nguyện do các thoả mãn trên thân gây ra; từ bỏ các sự ham thích thuộc về thân; không còn bị lôi cuốn bởi vẻ đẹp cũng như niềm hạnh phúc hão huyền của thân xác. Chế ngự đau khổ có nghĩa là từ bỏ các bất toại nguyện gây ra do bởi những điều không may xảy ra với thân; từ bỏ sự bất mãn khi (liên tục) quán niệm thân; không còn lùi bước do bởi ghê tởm sự ô uế và đau khổ thực sự của thân.
Bằng cách này, sức mạnh và kỹ năng thiền tập của thiền sinh được thể hiện. Bởi vì đây chính là sức mạnh của thiền tập: Để đạt đến sự tự do thoát khỏi cả những thỏa mãn và bất mãn; để làm chủ cả cái thích lẫn không thích của con người; để không còn bị lôi cuốn bởi những điều không thực tế và cũng không bị cuốn vào sự rút lui khỏi thực tế. Thành tựu được tất cả những điều này chính là nhờ vào kỹ năng thiền tập.
72. Nhiệt tâm, tỉnh giác và chánh niệm (Chú giải Trung Bộ Kinh)
Với người không nhiệt tâm (trong nỗ lực hành thiền của mình), sự trì trệ ở bên trong sẽ trở thành chướng ngại. Với người không tỉnh giác, họ sẽ bị nhầm lẫn giữa việc sử dụng các phương tiện đúng đắn và tránh sử dụng các phương tiện không đúng đắn. Với người có chánh niệm yếu ớt, họ sẽ không thể tránh khỏi việc không sử dụng các phương tiện đúng đắn trong khi lại sử dụng các phương tiện không đúng đắn. Vì những khiếm khuyết này, những người như vậy sẽ không thành công trong việc hành thiền của mình. Để thể hiện những phẩm chất mà nhờ đó thiền sinh có thể thành công, trong kinh đã dạy rằng: Vị ấy sống nhiệt tâm, tỉnh giác và chánh niệm.
73. Chánh niệm là phẩm tính làm hài hoà (Chú giải Trung Bộ Kinh)
Chánh niệm nên được duy trì mạnh mẽ ở khắp mọi nơi. Nó bảo vệ tâm chống lại trạo cử mà tâm có thể bị rơi vào, do bởi ảnh hưởng của các căn môn (indriya) có khuynh hướng giúp chống lại trạo cử như là tín, tấn và tuệ. Chánh niệm cũng bảo vệ chống lại sự mệt mỏi mà tâm có thể bị rơi vào, do bởi ảnh hưởng của căn môn có khuynh hướng giúp chống lại sự mệt mỏi — định. Vì vậy, chánh niệm được yêu cầu ở khắp mọi nơi,… như muối có trong mọi món ăn, như một vị quan thông thạo mọi công việc. Không có chánh niệm thì không có sự thúc đẩy hay kiềm chế tâm trí.
74. Lượm lặt từ các chú giải về chánh niệm và tỉnh giác (Chú giải Kinh Tập, Tiểu Bộ Kinh)
Do bởi hai phẩm tính này giúp loại bỏ các chướng ngại và nuôi dưỡng sự phát triển thiền tập, nên chúng được coi là những người trợ giúp, và điều này luôn luôn xảy ra đối với mọi loại thiền sinh cũng như trong việc thực hành của mọi đề mục thiền.
Các chức năng của chánh niệm và tỉnh giác có tầm quan trọng như nhau.
Không có tiến trình tâm liên quan đến hay biết và hiểu biết nào mà lại không cần đến chức năng của chánh niệm.
Một cách ngắn gọn thì sự xao nhãng là do bởi thiếu chánh niệm.
Chánh niệm là sự chú ý không ngừng, mang lại sự kiên trì trong bất kỳ hoạt động nào.
Dưới tác động của công việc phát triển tâm như là một thói quen, các năng lực giác quan đã được phát triển trở nên thấm đẫm với hương thơm của chánh niệm và tỉnh giác.
Phần trước | Mục lục | Phần kế
Viet Hung | A Happiness pursuer | Author of The Happiness Journal, Tản mạn về Hạnh phúc and NGẪM CAFÉ
Sách tôi dịch: Thiền cho người mới bắt đầu, Nổi loạn và tự do, Bài chú giải Kinh Mangala Sutta, Sức mạnh của sự hoài nghi và thiền chánh niệm (Vipassana), Những nguyên lý để sống hạnh phúc, Chúng ta đang sống vì điều gì?, Sự cho đi và Tình thương yêu, “Lấy tâm mình làm bạn của chính mình”
Get your source of inspiration and motivation toward reaching happiness here: https://www.viethungnguyen.com
One thought on “[TTTPG] III.3. Trích dẫn từ các bản chú giải”